Đề Xuất 11/2022 # Bệnh Viện Phục Hồi Chức Năng / 2023 # Top 12 Like | Mgwbeautypageant.com

Đề Xuất 11/2022 # Bệnh Viện Phục Hồi Chức Năng / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bệnh Viện Phục Hồi Chức Năng / 2023 mới nhất trên website Mgwbeautypageant.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bệnh viện phục hồi chức năng – điều trị bệnh nghề nghiệp (PHCN – ĐTBNN) được đổi tên từ Viện Điều Dưỡng Thành phố trực thuộc Sở Y Tế TP. HCM vào tháng 12/2014. Bệnh viện được chủ trương với cơ chế tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP và trực thuộc Sở Y tế TP. HCM.

Sơ lược về bệnh viện phục hồi chức năng – điều trị bệnh nghề nghiệp

Bệnh viện PHCN – ĐTBNN được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu khám – điều trị – phục hồi chức năng các bệnh nội khoa, bệnh nghề nghiệp cho công nhân viên chức tại các cơ quan, xí nghiệp.

1. Lịch sử hình thành của bệnh viện

Bệnh viện Điều Dưỡng – Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp được thành lập từ Viện Điều Dưỡng Thành phố trực thuộc Sở Y Tế TP. HCM theo Quyết định số 417/QĐ-UB ngày 22/07/1977. Đến ngày 25/12/2014, Quyết định số 6373/QĐ-UBND ban hành, bệnh viện được chính thức đổi thành Bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp.

Từ khi mới thành lập, bệnh viện đã có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà nước. Bệnh viện được phân thành các phân khoa với chức năng và nhiệm vụ chính đó là:

Cấp cứu, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng và điều trị bệnh nghề nghiệp theo các hình thức ngoại trú, nội trú hoặc tổ chức an dưỡng.

Khám – chữa bệnh chuyên khoa Phục hồi chức năng.

Khám – chữa bệnh đa khoa.

Khám – chữa bệnh Nghề nghiệp

Khám – chữa bệnh bằng Y học Cổ truyền.

Hồi sức – cấp cứu

An dưỡng

Khám – chứng nhận sức khỏe theo quy định

Tham gia Giám định khuyết tật khi được trưng cầu.

2. Thành tựu

Cho đến nay, bệnh viện đã đóng góp cho nền y học rất nhiều thành tựu và được tuyên dương, khen thưởng, cụ thể đó là:

Có nhiều thành tích và đóng góp trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, quyết định 2113/QĐ-TTG ngày 16/12/2009,

Có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ kế hoạch y tế theo quyết định số 546/QĐ-BYT ngày 18/02/2009.

Huân chương lao động hạng III năm 2012.

Có thành tích Xuất sắc trong công tác thực hiện Đề án 1816 của Bộ Y tế theo quyết định số 4614/QĐ-BYT ngày 24/11/2009.

Có thành tích Xuất sắc trong công tác thực hiện Đề án 1816 của Bộ Y tế giai đoạn 2008 – 2010 theo quyết định số 1250/QĐ-BYT ngày 26/04/2011.

Đạt danh hiệu Bệnh viện xuất sắc toàn diện nhiều năm liền.

Đón nhận cờ thi đua và bằng khen của Ủy ban nhân dân Thành phố

3. Đội ngũ y bác sĩ

Bệnh viện phục hồi chức năng – điều trị bệnh nghề nghiệp TP. HCM là nơi hội tụ của các bác sĩ đầu ngành chuyên Cơ xương khớp như:

BS.CKII.Nguyễn Hoài Nam – Giám đốc bệnh viện

BS. Đặng Văn Trường – Khoa Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng

BS. Lê Thị Hạ Quyên – Khoa Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng

BS. Đinh Quang Thanh – Khoa Tổng quát

BS. Nguyễn Hữu Đoàn – Khoa Tổng quát

BSCKII. Trần Trung Đệ – Khoa Ngoại tổng hợp – Phó giám đốc bệnh viện

BS. Nguyễn Thị Thu Thủy – Khoa Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng

BS. Nguyễn Hữu Mạnh

CN. Huỳnh Thị Quế Hương – Phó giám đốc bệnh viện

Ngoài ra, bệnh viện cũng chiêu mộ đội ngũ y bác sĩ chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm và tận tâm với công việc.

4. Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị

Giai đoạn đầu mới thành lập, Viện điều dưỡng Thành phố được giao 90 biệt thự song lập, xung quanh cây cối um tùm và hệ thống trang thiết bị hết sức thô sơ, thiếu thốn. Cho đến năm 1990, bệnh viện mới có chương trình cải tạo đường nội bộ, hóa đường đất thành đường nhựa, từ đó trang thiết bị bệnh viện cũng được trang bị dần.

Năm 2002, bệnh viện triển khai quy hoạch mở rộng các khoa phòng trong viện, đặc biệt là khoa PHCN. Tháng 8/2009, xây dựng hệ thống xử lý nước thải, gia cố tường rào, sửa chữa khu nhà tập thể thành phòng bệnh khoa PHCN tổn thương tủy sống.

Đến nay, bệnh viện đã được xây dựng khang trang với 10 phòng khám rộng rãi, hệ thống cấp thoát nước đảm bảo vệ sinh các phòng khoa PHCN Vật lý trị liệu; Cải tạo khoa Hồi sức tích cực, đơn vị thận nhân tạo cũng được cải tạo. Trang thiết bị cũng ngày càng tân tiến hiện đại để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh.

5. Chuyên khoa

Bệnh viện PHCN – ĐTBNN được phân thành 3 khoa:

Khoa Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng

Khoa Tổng quát

Khoa Ngoại Tổng hợp

Bên cạnh đó, bệnh viện cũng cung cấp đa dạng dịch vụ thăm khám phù hợp với nhiều đối tượng.

6. Bảng giá dịch vụ

7. Thời gian làm việc

– Bệnh viện PHCN – ĐTBNN TP. Hồ Chí Minh mở cửa làm việc từ thứ Hai – thứ Sáu.

– Thời gian làm việc:

Sáng từ 7:30 – 12:00

Chiều từ 13:00 – 16:30

Tiếp nhận cấp cứu 24/24

8. Thông tin liên hệ

Bệnh viện PHCN – ĐTBNN TP. Hồ Chí Minh:

Địa chỉ: Số 313 Đường Âu Dương Lân, Phường 3, Quận 8, TP. HCM.

Điện thoại: 028.3856.9147

Hotline: 028.3856.9147

Fax: 028.3856.9147

Email: bv.dieuduong@tphcm.gov.vn

Phục Hồi Chức Năng Gãy Xương Đòn / 2023

Gãy xương đòn là 1 gãy xương thường gặp trong chấn thương đặc biệt chấn thương thể thao, ngày nay nó thường được phẫu thuật hoặc điều trị bảo tồn cố định để chờ lành xương.

1. Lưu ý chung:

Không nâng tay: Không năng tay bị gãy xương đòn quá 70 độ theo mọi hướng trong vòng 4 tuần sau chấn thương.

Không nâng vật nặng: không nâng vật nặng quá 3 kg bên tay bị gãy trong vòng 6 tuần sau gãy xương.

Chườm đá: Trong tuần đầu chườm đá cho khớp vai 15 phút x 3 lần trong ngày giúp giảm đau, sưng nề và nhiễm trùng.

Sử dụng nẹp: Giữ nẹp xương đòn trong vòng 3-4 tuần sau chấn thương giúp lành xương.

Giữ vai đúng tư thế: trong khi mang đai cần chú ý giữ cho xương và cơ thẳng nhằm tạo sự cân bằng tránh di lệch thứ phát, chú ý tư thế vai, không nhún vai, không thả lỏng vai hay xoay tròn vai khi mang nẹp.

Tái khám: tái khám bác sĩ theo hẹn để kiểm tra theo dõi sự lành xương.

2. Chương trình phục hồi chức năng cơ bản.

2.1.Tuần đầu: bao gồm

Tập luyện hàng ngày

Lúc lắc cánh tay. Trong bài tập này người tập cong người về trước tay lành lựa trên ghế hay bàn, thả lỏng tự do tay bên đau, nhẹ nhàng xoay cánh tay theo 1 vòng tròn nhỏ, cố gắn xoay theo chiều và ngược chiều kim đồng hồ.

Tập sức mạnh cằm nắm: bóp 1 quả bóng nhỏ như banh tennis với lực nhẹ nhàng nhưng nhiều lần trong ngày.

Bài tập co cơ đẳng trường: trong bài tập này tập co cơ nhưng không chuyển động cánh tay. Có nhiều bài tập cơ khác nhau như:

Tập khớp vai đằng trường. tương tự như trên bạn cũng có thể tập dạng vai khép vai đưa trước đưa sau với cánh tay sát thân người.

Trong tuần này chuyên gia vật lý trị liệu cho bạn cũng có thể tập cho bạn các mô mềm bị tổn thương như rách kéo giãn..

Giai đoạn này tiếp tục điều trị mô mềm bị tổn thương,

Bắt đầu nhẹ nhàng tập các bài tập bò tường hay kéo ròng rọc để cải thiện biên độ vận động khớp vai, khi bò tường thực hiện bài tập đơn giản bằng các đầu ngón tay với biên độ không gây đau vai, tâp từ từ tăng dần từng chút một.

Bắt đầu các bài tập khớp khuỷu cổ tay gấp duỗi thẳng.

Nếu xương lành tiến triển tốt bạn có thể thực hiện gia tăng biên độ tập luyện, và tập tăng mạnh sưc cơ.

Bài tập biên độ vận động khớp vai tiếp tục nhưng giai đoạn này bạn có thể thêm lực đối kháng nhẹ với dây thun hay tạ với mức độ giới hạn đau, khớp vai cần nên tránh nâng vai, xoay hay bài tập vận động vai.

Trong giai đoạn này tập hết biên độ vận động khớp vai

Bài tập tăng sức mạnh cơ tiếp tục nhưng không mang vật nặng, tập tâng sức bền cơ với tạ nhẹ nhưng lập lại nhiều.

Bạn có thể thực hiện các bài tập tích cực sức mạnh cơ nhưng hãy ngưng tập khi thấy đau hay không vững khớp vai.

Bắt đầu các bài tập kỹ năng chuyên biệt.

Trở về tập luyên thể thao và thi đấu khi kiểm tra chức năng đủ khỏe và mềm dẻo như bên không đau.

Phục Hồi Chức Năng Cho Bệnh Nhân Xơ Cứng Cột Bên Teo Cơ (Als) / 2023

Xơ cứng cột bên teo cơ (ALS) còn có tên khác là bệnh Lou Gehrig, được đặt theo huyền thoại bóng chày Mỹ, Lou Gehrig – người được mệnh danh là “Người sắt” khi còn thi đấu. Ông mắc phải chứng xơ cột bên teo cơ khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp và qua đời chỉ 2 năm sau khi được chẩn đoán ở tuổi 39. Ngoài ra, nhà vật lý nổi tiếng Stephen Hawking và tay guitar Jason Becker cũng là những nạn nhân của ALS.

Nhà vật lý Stephen Hawking là một trong những người nổi tiếng là nạn nhân của ALS

Vậy ALS là bệnh gì?

Ảnh của Kiến thức y học.

Xơ cột bên teo cơ (Amyotrophic Lateral Sclerosis – ALS) còn được gọi là bệnh Charcot (amyotrophic lateral sclerosis) được Charcot mô tả lần đầu tiên vào năm 1869 và còn được gọi là bệnh Lou Gehrig. Đây là một bệnh thoái hoá thần kinh, tiến triển mạn tính với đặc điểm lâm sàng chủ yếu là: teo cơ, rung giật các sợi cơ và kèm theo hội chứng bệnh lý bó tháp, do tổn thương các nơron vận động ngoại vi kết hợp với tổn thương hệ tháp, không giảm hoặc mất cảm giác. Trong bệnh xơ cột bên teo cơ, các tế bào thần kinh vận động ở não và tủy sống bị thoái hóa dần dần.

Trong bệnh ALS các tế bào thần kinh vận động sẽ dần dần bị xơ hóa, dẫn đến việc bệnh nhân bị liệt dần dần. Ban đầu là các cơ ở tay, chân, rồi đến các cơ hầu họng, cơ lưỡi, cuối cùng là liệt các cơ hô hấp làm bệnh nhân tử vong.

Bệnh ALS là bệnh nặng và không có thuốc điều trị đặc hiệu, vì vậy triển vọng sống của bệnh nhân kể từ khi được chẩn đoán chỉ khoảng 3 – 5 năm. Tuy nhiên, cũng có khoảng 10% bệnh nhân ALS sống được trên 10 năm kể từ khi chẩn đoán.

1.2. Nguyên nhân

Cho đến nay, nguyên nhân gây bệnh ALS chưa được xác định.

Nguyên nhân gây bệnh hiện nay vẫn chưa được xác định rõ. Ở nhiều bệnh nhân vẫn không tìm ra được một căn nguyên ngoại sinh nào. Có một số trường hợp có xuất hiện bệnh ở nhiều người trong gia đình ở một hay nhiều thế hệ. Ở một số bệnh nhân, xuất hiện sau những yếu tố ngoại sinh như: nhiễm khuẩn, chấn thương, rối loạn chuyển hoá, nhiễm độc kim loại nặng… trong các yếu tố trên, người ta lưu ý nhiều đến viêm não tủy do virut, có trường hợp xơ cột bên teo cơ xuất hiện kèm theo hội chứng Parkinson sau viêm não. Nhiều trường hợp bệnh xuất hiện và tiến triển nặng dần sau chấn thương cột sống, tủy sống, có thể gặp xơ cột bên teo cơ ở bệnh nhân bị mắc kết hợp các bệnh khác của não tủy như: giang mai tủy sống, xơ não tuỷ rải rác, u tuỷ, rỗng tủy…

Ngày nay người ta thấy có sự biến đổi gen dẫn đến các rối loạn về men chuyển hoá, gây ứ đọng các gốc tự do như đồng, kẽm, superoxit, glutamat…

Còn có giả thuyết cho rằng đây là bệnh tự miễn dịch.

1.3. Mô bệnh học

Khu trú của tổn thương ở bệnh xơ cột bên teo cơ là: thoái hoá các tế bào thần kinh vận động nằm ở sừng trước tủy sống, đặc biệt là ở phình tủy cổ và thắt lưng, các nhân dây thần kinh sọ não ở thân não: nhân dây XII, IX, X và nhân vận động của dây V, tổn thương các đường dẫn truyền ở cột bên của tuỷ sống, đặc biệt là bó tháp, có thể tổn thương ở các tế bào Betz nằm ở lớp thứ V và lớp thứ III của vỏ não. Đặc điểm của tổn thương là: phản ứng viêm và thoái hoá, các tế bào thần kinh bị thoái hoá hoặc huỷ hoại được thay bằng tổ chức xơ, các sợi thần kinh bị thoái hoá huỷ hoại bao myelin, các đường dẫn truyền thần kinh bị đứt đọan. Quanh các mạch máu có thâm nhiễm nhẹ các tế bào viêm. Tiến triển của tổn thương có xu hướng lan dần lên cao, bắt đầu thường từ phình tuỷ cổ lan dần lên hành não, cầu não và vỏ não.

2. Lâm sàng và chẩn đoán

Bệnh khởi phát từ từ, bắt đầu bằng triệu chứng nhẹ, chưa đầy dủ, sau đó xuất hiện dần các triệu chứng khác với mức độ ngày càng nặng.

Khởi phát bằng yếu và teo cơ ở bàn tay và cẳng tay là thể hay gặp nhất, chiếm khoảng 50% tổng số bệnh nhân XCBTC. Lúc đầu biểu hiện yếu sức cơ và teo cơ ở một tay, sau đó một vài tuần hoặc có thể một vài tháng chuyển sang tay bên kia, đôi khi bệnh khởi phát cùng một lúc ở cả hai tay nhưng mức độ không đều nhau.

Khởi phát bằng yếu và teo cơ ở vai và thân ít gặp.

Khởi phát bằng bại và teo cơ ở bàn chân và cẳng chân đứng sau khởi phát ở chi trên, có thể thấy biểu hiện giống như tổn thương dây thần kinh hông to hoặc dây thần kinh hông khoeo ngoài, nhưng đã kèm theo tăng phản xạ gân xương và có thể thấy phản xạ bệnh lý bó tháp.

Hiếm gặp khởi phát bằng teo và bại các cơ đùi, nó chỉ thể hiện sau khi bệnh đã tiến triển nặng.

Khởi phát bằng triệu chứng tổn thương nhân dây thần kinh XII, IX và X biểu hiện bằng lời nói ngọng, nuốt khó, teo cơ lưỡi, gặp khoảng 1/5 số bệnh nhân XCBTC.

Khởi phát bằng rung giật các sợi cơ, các bó cơ ít gặp.

Hiếm có trường hợp khởi phát bằng co cứng tăng trương lực cơ và bằng tăng phản xạ gân xương trước khi có giảm sức cơ và teo cơ.

2.2. Triệu chứng lâm sàng đầy đủ

+ Yếu cơ, thường gặp ở một bên bàn tay, cẳng tay, bàn chân, cẳng chân. Sau đó yếu cả 2 bên. Theo thời gian, các cơ này teo nhỏ dần.

+ Rung giật bó sợi cơ. Bệnh nhân thấy từng bó sợi cơ bị rung giật một cách tự phát, họ không thể kiềm chế được sự rung giật này.

+ Bệnh có thể ảnh hưởng đến khả năng nói, nuốt biểu hiện bằng nói ngọng, nuốt khó, teo cơ lưỡi. Ở giai đoạn cuối của bệnh, các cơ hô hấp cũng bị ảnh hưởng gây khó thở.

– Triệu chứng thực thể:

+ Dấu hiệu bệnh lý bó tháp (Babinski dương tính).

+ Không giảm hoặc mất cảm giác.

2.3. Xét nghiệm

ALS là một bệnh khó chẩn đoán, cần kết hợp các dấu hiệu lâm sàng và các kết quả xét nghiệm. ALS nên được đặt ra khi đã loại trừ những bệnh có biểu hiện tương tự (ví dụ u tủy sống, xơ cứng bì rải rác hoặc chèn ép thần kinh).

Trong hầu hết trường hợp xét nghiệm dịch não thấy bình thường, số ít trường hợp có biểu hiện tăng nhẹ protein.

Điện cơ có biểu hiện điển hình của rối loạn dẫn truyền thần kinh cơ, tuy nhiên cũng không phải là đặc hiệu của bệnh XCBTC mà nó cũng tương tự biểu hiện cơ của các bệnh lý tổn thương tuỷ sống khác.

Điện cơ khi không co cơ xuất hiện điện thế rung sợi cơ, khi co cơ tối đa điện cơ có biểu hiện giảm số lượng đơn vị vận động, tăng biên độ và kéo dài bước sóng điện thế đơn vị vận động.

– Xét nghiệm máu và nước tiểu:

Các xét nghiệm máu không thấy thay đổi gì rõ, có tác giả nêu có biểu hiện rối loạn chuyển hoá pyruvat. Có thể thấy tăng bài tiết creatinin và giảm creatinin trong nước tiểu.

Hình ảnh MRI có thể thấy tăng tín hiệu ở tuỷ sống và thân não (hình ảnh T2), teo thùy trán não.

Sinh thiết cơ có hình ảnh teo các sợi cơ giống như teo cơ do các bệnh thần kinh ngoại vi khác, với biểu hiện: teo, thoái hoá các sợi cơ trong một bó cơ các sợi cơ đều bị thoái hoá, không xen kẽ sợi cơ bình thường, nhưng có bó cơ không bị thoái hoá xen kẽ lẫn bó cơ bị thoái hoá. Không có rối loạn đáng kể cấu trúc của sợi cơ, không xen lẫn các tổ chức xơ và mỡ vào các cơ.

2.4. Chẩn đoán

2.4.1. Chẩn đoán bệnh ALS: dựa trên sự kết hợp của các dữ liệu sau:

– Dấu hiệu Babinski dương tính.

– Xét nghiệm dịch não tủy bình thường.

– Xét nghiệm tốc độ dẫn truyền thần kinh giảm.

– Chụp cộng hưởng từ (MRI) não và tủy sống.

2.4.2. Chẩn đoán phân biệt

Trước hết cần phân biệt với teo cơ tiên phát như: loạn dưỡng cơ tiến triển, ở bệnh cơ tiên phát không có hội chứng hành não hoặc liệt giả hành não. Nếu có nghi ngờ thì điện cơ và sinh thiết cơ giúp ta loại trừ hoàn toàn bệnh lý của cơ.

Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác của tuỷ sống và não như: xơ não tuỷ rải rác, hạ liệt cứng gia đình, viêm sừng trước tuỷ sống mạn tính tiến triển, thoái hoá cột sống có chèn ép các rễ thần kinh cổ, hốc tuỷ, thiểu năng tuần hoàn não hệ động mạch sống nền, u tuỷ cổ và giang mai thần kinh.

Các bệnh nhân trên đều có bảng lâm sàng riêng, có thể nêu những đặc điểm chính của bệnh khác với XCBTC như sau:

– Xơ não tủy rải rác, do tổn thương nhiều ổ, rải rác ở não và tuỷ nên lâm sàng đa dạng, thường thấy ở các triệu chứng như: giảm thị lực, liệt hai chi dưới, hội chứng tiểu não, hội chứng tiền đình, ít có biểu hiện teo cơ và rung giật bó sợi cơ.

– Hạ liệt cứng gia đình: biểu hiện bằng liệt trung ương chi dưới tiến triển nặng dần, có rối loạn cơ vòng, không tiến triển lên chi trên và hành não.

– Viêm sừng trước tuỷ sống mạn tính tiến triển: biểu hiện bằng liệt ngoại vi ở hai chi trên hoặc tứ chi kèm theo teo cơ, không có rối loạn cảm giác nhưng không có hội chứng tháp.

– Tổn thương các rễ thần kinh cổ do thoái hoá cột sống cổ: hội chứng Aran- Duchenne thực sự kèm theo rối loạn cảm giác, không bao giờ tăng phản xạ gân xương và có phản xạ bệnh lý bó tháp.

– Hốc tuỷ: có rối loạn cảm giác điển hình là phân ly cảm giác: mất cảm giác đau, nóng, lạnh, còn xúc giác và cảm giác sâu.

– U tuỷ cổ: có biểu hiện chèn ép tủy nên bao giờ cũng có rối loạn cảm giác như: đau rễ, giảm cảm giác theo kiểu khoanh đoạn và theo đường dẫn truyền thần kinh.

– Thiểu năng tuần hoàn hệ động mạch sống – nền: ở mức độ nặng.

3. Điều trị và phục hồi chức năng

Hiện nay chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu cho bệnh ALS. Chỉ có 1 loại thuốc được Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận là có tác dụng giúp kéo dài sự sống của bệnh nhân ALS thêm khoảng vài tháng. Đó là Riluzose. Tuy nhiên, thuốc không có tác dụng đáng kể trong việc giảm các triệu chứng và tăng chất lượng sống của bệnh nhân.

Các phương pháp điều trị khác bao gồm:

– Các bài tập vật lý trị liệu.

– Ngôn ngữ trị liệu: giúp cải thiện các vấn đề về nói và nuốt.

– Các dụng cụ hỗ trợ: như gậy chống, xe đẩy, tay vịn, ghế tắm…

– Một số thuốc điều trị triệu chứng: như thuốc chống căng cứng cơ, thuốc giảm đau, thuốc làm giảm tiết nước bọt, thuốc chống trầm cảm, có thể dùng corticoid từng đợt, Có thể dùng Imuno – globulin….

– Cho ăn qua ống sonde (khi bệnh nhân không tự ăn được).

– Các biện pháp hỗ trợ hô hấp.

4. Tiên lượng

Bệnh tiến triển nặng dần, khoảng 50% tử vong sau 3 năm, sau 6 năm tử vong khoảng 90%.

Ảnh của Kiến thức y học.

Tài liệu tham khảo

1. Decarvalcho M, Cavaleiro Miranda P, Loudes Sales M. Neurophysiological features of fasciculation Potentials Evoked by Trancrannical magnetic stimulation in ALS. Neuro 2000, 247/3, 189 – 94.

2. Houston Merritt H. Neurology 1959, 481 – 488.

3. Martin Samuels. Neurologic therapeutics 1991, 384.

4. Raymond Adams. Principles of Neurology 1997, 1090.

5. Fratantoni S.A/Weisz. G/Pardal chúng tôi al. Amyotrophic lateral selerosis IgG – Treated neuromuscular Junctions ensitivity to L – Type calcium channel bloker. Muscle nerve 2000, 23/4, 543 – 550.

6. QuocBao. http://www.benhhoc.com/

Hội Chứng Siêu Nữ : Nguyên Nhân, Hỗ Trợ Tâm Lý Và Phục Hồi Chức Năng / 2023

Hội chứng siêu nữ ảnh hưởng khoảng 1 trong 1.000 phụ nữ. Theo ước tính của viện Y tế quốc gia Hoa Kỳ, mỗi năm có từ 5 đến 10 người có hội chứng siêu nữ được sinh ra.

2. Triệu chứng của hội chứng siêu nữ

Một số cô gái và trẻ nữ có NST của hội chứng siêu nữ nhưng không có triệu chứng nào được chẩn đoán. Trên thực tế, ước tính chỉ có 10% phụ nữ mắc hội chứng được chẩn đoán.

Các dấu hiệu và triệu chứng ở mỗi người mắc có thể khác nhau. Một số người sẽ không có ảnh hưởng đáng kể nào. Trong khi những người khác có thể có các triệu chứng nhẹ đến nặng. Nếu xuất hiện các dấu hiệu và thường bao gồm các mức độ nghiêm trọng khác nhau:

Cao hơn chiều cao trung bình, đặc biệt chân dài, đây là đặc điểm tiêu biểu nhất.

Chậm phát triển kỹ năng nói và ngôn ngữ, cũng như kỹ năng vận động như ngồi và đi bộ

Khuyết tật học tập như khó khăn với đọc, hiểu hoặc làm toán

Các vấn đề với kỹ năng vận động chung và khéo léo, bộ nhớ, phản biện và xử lý thông tin

Trương lực cơ yếu

Ngón tay cong bất thường

Các vấn đề về hành vi và cảm xúc

Nếp gấp da nằm dọc phủ góc trong của mắt. Khoảng cách hai mắt xa nhau.

2.1 Biến chứng của hội chứng siêu nữ

Có thêm một nhiễm sắc thể X ở người mắc hội chứng này. Nó có thể ảnh hưởng đến các khu vực của não có chức năng kiểm soát, điều hành. Điều này khiến họ khó tập trung, quản lý thời gian và hòa đồng với những người khác.

Nghiên cứu cho thấy những cô gái có ba NST X có nhiều lo lắng hơn. Các kỹ năng xã hội kém phát triển và tỷ lệ mắc rối loạn phổ tự kỷ cao hơn. Trong một nghiên cứu được công bố 52% các cô gái được chẩn đoán mắc hội chứng siêu nữ đáp ứng các tiêu chí cho chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) . Vì vậy, người mắc hội chứng có thể trải nghiệm lòng tự trọng thấp. Thiếu tự tin và có vấn đề với các mối quan hệ với người khác.

Người mắc hội chứng siêu nữ có trí thông minh ở mức bình thường. Hoặc thấp hơn so với người bình thường trung bình khoảng 20 điểm IQ.

2.2 Có phải hội chứng siêu nữ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản?

Mãn kinh xảy ra khi người phụ nữ không còn sản xuất đủ hormone để giải phóng trứng mỗi tháng. Nó khiến phụ nữ không thể mang thai. Đối với hầu hết phụ nữ, mãn kinh xảy ra khoảng tuổi 50.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ mắc chứng siêu nữ có thể ngừng sản xuất trứng ở độ tuổi trẻ hơn. Nếu điều đó xảy ra, họ có thể mãn kinh sớm, và không thể mang thai.

Nhìn chung, hầu hết phụ nữ có hội chứng siêu nữ trước mãn kinh đều có sự phát triển tình dục bình thường. Có thể mang thai, sinh con khỏe mạnh giống như phụ nữ bình thường.

3. Kỹ thuật chẩn đoán hội chứng siêu nữ

Hầu hết phụ nữ và bé gái mắc hội chứng siêu nữ không thể hiện bất kỳ dấu hiệu bên ngoài nào. Họ có cuộc sống khỏe mạnh bình thường, đó là lý do tại sao rất nhiều trường hợp không được phát hiện. Chẩn đoán có thể được thực hiện thông qua xét nghiệm di truyền. Thử nghiệm này có thể được thực hiện sau khi sinh bằng cách lấy mẫu máu. Nó cũng có thể được thực hiện trước khi sinh bằng các xét nghiệm phức tạp hơn như chọc ối và lấy mẫu sinh thiết gai nhau màng đệm giúp phân tích các mô và các tế bào của thai nhi.

4. Nguyên nhân hội chứng siêu nữ

Nhiễm sắc thể là các phân tử được tìm thấy trong các tế bào cung cấp các đặc điểm di truyền như da, mắt, tóc và giới tính. Chúng ta thừa hưởng các nhiễm sắc thể từ bố mẹ của mình. Bình thường, mỗi người sinh ra có 46 nhiễm sắc thể, trong đó có một cặp nhiễm sắc thể giới tính: XY (nam) hoặc XX (nữ).

Do một sự cố ngẫu nhiên trong khi phân chia các tế bào hoặc ngay sau khi thụ thai. Một bé gái có thể nhận được thêm một nhiễm sắc thể X, dẫn đến trẻ có ba X. Một số trẻ có nhiễm sắc thể X thứ ba chỉ trong một số tế bào, do đó họ không có hoặc có triệu chứng rất nhẹ.

Nếu con bạn sinh ra với ba nhiễm sắc thể X, nên nhớ rằng bạn không thể làm gì để ngăn chặn điều này được.

5. Hỗ trợ tâm lý và phục hồi chức năng với hội chứng này

Không có cách điều trị hội chứng siêu nữ. Một cô gái sinh ra bị rối loạn sẽ luôn có nhiễm sắc thể X thứ ba. Hỗ trợ tâm lý và phục hôi chức năng là hình thức can thiệp khuyên nghị cho các cô gái và trẻ nữ để kiểm soát các triệu chứng của họ.

Can thiệp âm ngữ, lời nói và các hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng ở trẻ siêu nữ.

Khuyết tật học tập có thể được giải quyết với các kế hoạch giáo dục chuyên biệt.

Các vấn đề hành vi có thể được quản lý với sự lượng giá. Tham vấn và hỗ trợ tâm lý từ cá nhân và gia đình từ các chuyên viên tâm lý. Ngoài ra còn có các nhóm hỗ trợ đồng đẳng cho những người có hội chứng.

Các nghiên cứu cho thấy trẻ nữ nhận được can thiệp sớm có biểu hiện chức năng sống tốt hơn các cô gái không được can thiệp. Những người được chẩn đoán mắc hội chứng siêu nữ cũng nên được theo dõi về sức khỏe. Một số trẻ mắc chứng này có thể có vấn đề về tim và thận.

Hội chứng siêu nữ không phổ biến, các triệu chứng của nó có thể rất nhẹ và khó nhận thấy đến mức nó thường không được chẩn đoán. Thông thường, nó chỉ được chú ý khi trẻ không đáp ứng các chức năng trí tuệ, thể lý ở các mốc phát triển nhất định. Và các vấn đề hoàn toàn có thể lên kế hoạch can thiệp. Hầu hết các trẻ gái mắc siêu nữ có thể có cuộc sống bình thường, khỏe mạnh, đặc biệt là khi họ được chẩn đoán và can thiệp tâm lý và theo dõi thể lý từ sớm.

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bệnh Viện Phục Hồi Chức Năng / 2023 trên website Mgwbeautypageant.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!