Đề Xuất 11/2022 # Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Điều Trị Bệnh Canine Influenza (Dog Flu) / 2023 # Top 13 Like | Mgwbeautypageant.com

Đề Xuất 11/2022 # Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Điều Trị Bệnh Canine Influenza (Dog Flu) / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Điều Trị Bệnh Canine Influenza (Dog Flu) / 2023 mới nhất trên website Mgwbeautypageant.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bệnh Canine influenza (dog flu) (cúm ở chó) xảy ra là do các loại virus cúm gây ra và truyền nhiễm theo con đường hô hấp. Bệnh nay tuy không gây nguy hiểm ngay đến sức khỏe mà tính mạng của chúng, nhưng nếu để kéo dài thì sẽ khiến chúng mệt mọi, suy nhược thậm chí là tử vong nếu không được chữa trị dứt điểm.

Bệnh cúm chó là một bệnh về đường hô hấp truyền nhiễm ở chó do các loại virus cúm loại A gây ra. Chúng được gọi là “virus cúm chó”. Không có trường hợp được ghi nhận nào về việc nhiễm bệnh ở người với cúm chó. Có hai loại virus cúm A khác nhau ở chó: một là virus H3N8 và một là virus H3N2. Virus cúm chó loại A (H3N2) khác với virus cúm theo mùa loại A (H3N2) lây lan hàng năm ở người

Virus cúm thuộc họ Orthomyxoviridae. Cúm chó được xác định dựa trên thành phần của hai loại protein cụ thể trong lớp ngoài lipid của capsid (Lớp vỏ protein): hemagglutinin (HA) và neuraminidase (NA).

Nhìn chung, virus cúm chó được cho là gây ra mối đe dọa thấp đối với con người. Cho đến nay, không có bằng chứng về sự lây lan virus cúm chó từ chó sang người và chưa có trường hợp nào được báo cáo về việc con người bị nhiễm virus cúm chó ở Hoa Kỳ hoặc trên toàn thế giới. Năm 2016, CDC đã sử dụng Công cụ đánh giá rủi ro dịch cúm (Influenza Risk Assessment Tool) để đánh giá nguy cơ đại dịch tiềm tàng của virus cúm H3N2 ở chó và cho thấy mức độ nguy hiểm của virus chỉ ở mức thấp.

Tuy nhiên, virus cúm liên tục thay đổi và có khả năng bệnh cúm chó có thể lây nhiễm sang người và lây lan từ người sang người. Vì lý do này, hệ thống giám sát toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới đã dẫn đến việc phát hiện các bệnh nhiễm trùng ở người do virus cúm A mới có nguồn gốc động vật (như chim hoặc lợn), nhưng cho đến nay, không có trường hợp nào nhiễm virus cúm A từ loài chó đã được phát hiện ở người.

Virus cúm chó H3N8 có nguồn gốc từ ngựa, lây truyền sang chó và hiện có thể lây lan giữa các con chó với nhau. Virus cúm ngựa H3N8 (horse flu) đã được biết là tồn tại ở ngựa trong hơn 40 năm. Năm 2004, các trường hợp mắc bệnh hô hấp không rõ ở chó (ban đầu là giống chó greyhounds – giống chó săn chủ yếu được nuôi để trình diễn và đua) đã được báo cáo ở Hoa Kỳ. Một cuộc điều tra cho thấy bệnh về đường hô hấp này là do virus cúm A ở ngựa (H3N8) gây ra. Các nhà khoa học tin rằng loại virus này đã truyền từ loài này sang loài khác (từ ngựa sang chó) và đã thích nghi để gây bệnh cho loài chó và lây lan giữa các con chó với nhau, đặc biệt là những con bị nhốt trong chuồng và các trạm cứu hộ. Đây hiện được coi là một loại virus H3N8 dành riêng cho loài chó. Vào tháng 9 năm 2005, loại virus này đã được các chuyên gia xác định là mầm bệnh mới xuất hiện trong quần thể chó chó ở Hoa Kỳ. Hiện tại nó đã được phát hiện ở những con chó trên khắp nước Mỹ.

Virus cúm chó H3N2 có nguồn gốc từ chim, lây truyền sang chó và hiện có thể lây lan giữa các con chó với nhau. Việc truyền nhiễm vi rút cúm chó H3N2 cho mèo từ những con chó bị nhiễm bệnh cũng đã được ghi nhận. Virus cúm A H3N2 được phát hiện lần đầu tiên ở chó tại Hàn Quốc vào năm 2007 và cũng đã được ghi nhận ở những con chó tại Trung Quốc, Thái Lan và Canada. Vi rút cúm chó H3N2 được phát hiện lần đầu tiên tại Hoa Kỳ vào tháng 4 năm 2015 và hiện đã được tìm thấy ở hơn 30 tiểu bang. Cho đến nay, virus chó H3N2 được báo cáo ở Hoa Kỳ gần như giống hệt về mặt di truyền với virus H3N2 ở chó trước đây chỉ được báo cáo ở Châu Á.

Cả hai loại vi rút cúm chó (H3N8 và H3N2), hiện được coi là đặc hữu ở chó tại Hoa Kỳ. Ngoài ra, tại thời điểm này không có bằng chứng cho thấy cúm chó ảnh hưởng đến con người cũng như không có khả năng gây đại dịch. Nếu có bằng chứng cho thấy virus cúm chó có thể lây nhiễm cho người và có khả năng lây lan từ người sang người, CDC sẽ thực thi các cơ quan hiện có của mình để hạn chế việc giới thiệu và / hoặc lây lan của đại dịch đó sang hoặc ở trong Hoa Kỳ.

Các quy định của CDC yêu cầu chó phải khỏe mạnh để vào Hoa Kỳ, do đó chó có thể bị từ chối nhập cảnh hoặc đánh giá thêm nếu chúng trông giống như bị bệnh với các triệu chứng của bệnh truyền nhiễm như bệnh cúm chó. CDC có thể yêu cầu kiểm tra thú y với chi phí do chủ nuôi chi trả đối với những con chó bị bệnh hoặc “necropsy” (khám nghiệm tử thi động vật) cho những con chó đã chết khi đến Hoa Kỳ.

Các quy định về virus cúm CDC hiện hành chỉ áp dụng cho các virus có khả năng gây đại dịch ở người. Tuy nhiên, CDC đang làm một số điều cần chuẩn bị trong trường hợp không thể xảy ra là bệnh cúm chó trở thành mối đe dọa đối với con người hoặc động vật khác ngoài chó. Đầu tiên, CDC tiếp tục tiến hành giám sát quanh năm đối với các virus cúm A theo mùa và các chủng loại mới và tất cả các trường hợp nhiễm virus cúm A mới ở người đều được xét nghiệm đầy đủ. Người bị nhiễm một loại virus cúm A mới có nguồn gốc từ động vật có thể báo cáo cho CDC; cho đến nay không có trường hợp nhiễm vi rút cúm chó nào được báo cáo. Thứ hai, CDC và USDA APHIS VS có các giao thức hợp tác hiện có để hoạt động cùng nhau trong trường hợp bùng phát virus cúm A mới. Những giao thức tương tự này sẽ được theo dõi trong trường hợp dịch cúm chó bị nghi ngờ truyền nhiễm ở người. Thứ ba, CDC đã tiến hành đánh giá rủi ro về khả năng gây đại dịch của virus H3N2 trên chó bằng Công cụ đánh giá rủi ro dịch cúm và thấy rằng nó có nguy cơ thấp.

Không có mùa lây bệnh nào đối với bệnh cúm chó và nhiễm trùng có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong năm. Nhiễm virus cúm chó thường giống với viêm khí quản truyền nhiễm ở chó (“kennel cough”), gây ra bởi một hoặc nhiều bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc viris, bao gồm Bordetella bronchiseptica và parainfluenza virus.

Dấu hiệu của bệnh này ở chó là ho, sổ mũi, sốt, lờ đờ, chảy nước mắt và giảm cảm giác thèm ăn, nhưng không phải tất cả các con chó sẽ có dấu hiệu bị bệnh.

Mèo bị nhiễm H3N2 có dấu hiệu của bệnh hô hấp trên, bao gồm chảy nước mũi, nghẹt mũi, khó chịu và chảy nước bọt quá mức.

Vi rút cúm chó (CIV) lây nhiễm và tái tạo bên trong các tế bào trong đường hô hấp từ niêm mạc mũi đến đường thở cuối. Phản ứng viêm với nhiễm trùng dẫn đến viêm mũi, viêm khí quản, viêm phế quản và viêm tiểu phế quản. Quá trình bệnh lý dẫn đến cái chết của các tế bào biểu mô lót đường hô hấp, làm lộ ra màng đáy. Điều này dẫn đến đường hô hấp nhiễm trùng thứ cấp do vi khuẩn gây ra sổ mũi và ho.

Hầu như tất cả những con chó tiếp xúc với virus cúm chó đều bị nhiễm bệnh, với khoảng 80% phát triển các dấu hiệu lâm sàng của bệnh. Khoảng 20% những con chó bị nhiễm bệnh không có biểu hiện các dấu hiệu lâm sàng và vẫn có thể thải ra virus và lan truyền sự truyền nhiễm.

Hầu hết các con chó phục hồi trong vòng 2 đến 3 tuần. Tuy nhiên, một số con chó có thể bị nhiễm vi khuẩn thứ cấp có thể dẫn đến bệnh nặng hơn và viêm phổi. Bất cứ ai có lo ngại về sức khỏe thú cưng của họ, hoặc thú cưng của họ có dấu hiệu bị bệnh cúm chó, nên liên hệ ngay với bác sĩ thú y.

Cúm chó không thể được chẩn đoán chỉ bằng các dấu hiệu lâm sàng (ho, hắt hơi và chảy nước mũi) vì những dấu hiệu lâm sàng này cũng xuất hiện với các bệnh hô hấp ở chó khác. Các xét nghiệm có sẵn để chẩn đoán và xác định các chủng vi-rút cúm chó. Các xét nghiệm bao gồm: phân lập virus, xét nghiệm miễn dịch để phát hiện kháng nguyên virus, PCR để phát hiện axit nucleic của virus và huyết thanh tìm kháng thể đặc hiệu với virus. PCR có thể là xét nghiệm đáng tin cậy nhất để chẩn đoán bệnh cúm chó.

Tỷ lệ chó bị nhiễm bệnh này mà chết rất nhỏ. Một số con chó bị nhiễm trùng không triệu chứng (không có dấu hiệu bệnh), trong khi một số con bị bệnh nặng. Bệnh nặng được đặc trưng bởi sự khởi đầu của viêm phổi.

Virus cúm chó không phổ biến trong quần thể chó và nhiều con chó chưa bao giờ tiếp xúc với virus này. Tỷ lệ mắc bệnh (số lượng động vật bị phơi nhiễm phát bệnh) ước tính khoảng 80%. Tỷ lệ tử vong thấp, dưới 10%. Tử vong xảy ra chủ yếu ở những con chó với dạng bệnh nghiêm trọng.

Cho đến nay, không có trường hợp tử vong ở mèo bị nhiễm cúm chó đã được báo cáo.

Hầu hết tất cả các con chó đều dễ bị nhiễm bệnh cúm chó, và nhiễm virus có xu hướng lây lan giữa những con chó nằm cùng trong chuồng và các trạm cứu hộ. Cúm chó được cho là lây lan chủ yếu ở chó thông qua các giọt hô hấp được tạo ra trong quá trình ho và hắt hơi từ những con chó bị nhiễm bệnh hoặc qua tiếp xúc với bề mặt bị ô nhiễm. Do đó, những người nuôi chó có chó bị ho hoặc có dấu hiệu bệnh hô hấp khác không nên cho chó của họ tiếp xúc với những con chó khác hoặc mèo khác. Quần áo, thiết bị, bề mặt và bàn tay nên được làm sạch và khử trùng sau khi tiếp xúc với chó có dấu hiệu bệnh về đường hô hấp.

Virus có thể tồn tại (sống và có khả năng lây nhiễm) trên bề mặt tới 48 giờ, trên quần áo trong 24 giờ và trên tay trong 12 giờ. Điều quan trọng là phải thực hiện các giao thức an toàn sinh học và quy trình khử trùng để giảm nguy cơ truyền bệnh.

H3N8 có thời gian ủ bệnh từ 1 đến 5 ngày, với các dấu hiệu lâm sàng trong hầu hết các trường hợp xuất hiện 2 đến 3 ngày sau khi tiếp xúc. Chó bị nhiễm H3N2 có thể bắt đầu có dấu hiệu hô hấp trong khoảng từ 2 đến 8 ngày sau khi nhiễm bệnh. Chó dễ lây nhất trong thời kỳ ủ bệnh và làm phát tán virus mặc dù chúng không có dấu hiệu lâm sàng của bệnh. Một số con chó có thể không có dấu hiệu bị bệnh, nhưng bị nhiễm trùng cận lâm sàng và phát tán virus.

Hiện nay đã có sẵn phương pháp xét nghiệm để biết được chó của bạn có bị nhiễm virus cúm chó H3N8 và H3N2 hay không. Bác sĩ thú y của bạn có thể cho bạn biết xét nghiệm nào là phù hợp.

Điều trị phần lớn bao gồm chăm sóc hỗ trợ giúp giữ cho chó luôn đủ nước và thoải mái trong khi cơ thể của nó sau đó tạo một phản ứng miễn dịch với nhiễm trùng để phục hồi. Ở dạng bệnh nhẹ hơn, việc chăm sóc này có thể bao gồm thuốc để làm cho chú chó của bạn thoải mái hơn và truyền dịch để đảm bảo rằng chú chó của bạn được cấp đủ nước. Kháng sinh phổ rộng (Broad spectrum antibiotics) có thể được kê toa bởi bác sĩ thú y nếu nghi ngờ nhiễm vi khuẩn thứ cấp.

Vắc-xin để bảo vệ chó chống lại cảm cúm chó H3N8 và H3N2 hiện có sẵn ở Hoa Kỳ. Bác sĩ thú y của bạn có thể cung cấp thêm thông tin về các loại vắc-xin này và liệu bạn có nên xem xét việc tiêm phòng cho chó của bạn hay không.

Tham khảo ý kiến bác sĩ thú y để xác định xem liệu chó cưng của bạn có cần một cuộc hẹn để bác sĩ thú y có thể khám bệnh cho chúng và đề nghị một quá trình điều trị thích hợp.

Virus cúm chó có thể tồn tại trong môi trường khoảng 2 ngày và có thể tồn tại trên tay và quần áo trong tối đa 24 giờ. Trong các cơ sở thú y, trạm cứu hộ, virus cúm chó dường như dễ dàng bị tiêu diệt bởi các chất khử trùng thường được sử dụng trong các cơ sở đó, chẳng hạn như các hợp chất ammonium (ví dụ: benzalkonium chloride), aldehydes, potassium peroxymonosulfate, phenols và thuốc tẩy (1:30 pha loãng). Các quy trình làm sạch và khử trùng nên được thiết lập để giảm nguy cơ lây truyền virus thông qua tiếp xúc gián tiếp với người hoặc các đồ vật truyền bệnh khác (ví dụ: lồng, bát, phòng thí nghiệm, v.v.)

Tất cả nhân viên nên rửa tay bằng xà phòng và nước:

Khi đến cơ sở:

Trước và sau khi tiếp xúc với từng con chó

Sau khi tiếp xúc với nước bọt, nước tiểu, phân hoặc máu của chó

Sau khi làm sạch lồng

Trước khi ăn, nghỉ ngơi, hoặc rời khỏi cơ sở

Trước và sau khi sử dụng nhà vệ sinh

Các giao thức cách ly nên được áp dụng nghiêm ngặt cho những con chó có dấu hiệu lâm sàng của bệnh hô hấp. Không nên đưa những con chó có tiếp xúc với CI hoặc có biểu hiện triệu chứng hô hấp tới các địa điểm có nhiều con chó khác như lớp huấn luyện, chương trình hoặc sự kiện, chăm sóc ban ngày, và các trạm cứu hộ cho đến khi kết thúc thời gian cách ly.

Những con chó bị bệnh hoặc bị phơi nhiễm nên được cách ly, tốt nhất là trong một khu vực có nguồn cung cấp không khí riêng biệt. Nên cách ly 4 tuần. Mặc đồ bảo hộ cá nhân (áo choàng và găng tay…) khi xử lý động vật bị bệnh để tránh làm nhiễm bẩn quần áo. Làm sạch và khử trùng tất cả quần áo (bao gồm cả giày dép), thiết bị, bề mặt và bàn tay sau khi tiếp xúc với chó có dấu hiệu bệnh về đường hô hấp. Chủ nuôi có chó bị ho hoặc có biểu hiện bệnh hô hấp không nên đưa chó tham gia các hoạt động với những con chó khác để tránh phơi nhiễm virus.

Vắc-xin có sẵn cho cả cúm chó H3N8 và H3N2. Một loại vắc-xin hóa trị hai có thể bảo vệ chống lại cả 2 chủng virus nói trên. Hiện tại, không có vắc-xin cúm chó được phê duyệt để sử dụng ở mèo. Tiêm phòng có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh cúm chó. Tiêm vắc-xin có thể không ngăn ngừa cùng một lần sự nhiễm trùng, nhưng nó có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng và thời gian mắc bệnh lâm sàng.

Vắc-xin cúm chó là một loại vắc-xin “lifestyle” – vắc-xin không bắt buộc và không được khuyến cáo cho mọi con chó. Nhìn chung, vắc-xin này nhằm bảo vệ những con chó có nguy cơ tiếp xúc với vi rút cúm chó, bao gồm những con tham gia hoạt động với nhiều con chó khác hoặc được nuôi trong môi trường chung, đặc biệt là những nơi dễ phát sinh virus. Những con chó có thể được hưởng lợi từ việc tiêm phòng loại bệnh này bao gồm những con đã được tiêm vắc-xin kennel cough (ho cũi chó) (Bordetella / parainfluenza), bởi vì các nhóm nguy cơ là tương tự nhau. Chủ nuôi chó nên tham khảo ý kiến bác sĩ thú y của họ để xác định chó của họ có nguy cơ phơi nhiễm với virus cúm chó hay không và tiêm vắc-xin phù hợp với chó của họ.

Khi cần chăm sóc thú cưng của bạn đừng quên tới Bệnh Viện Thú Y Thi Thi.

LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI

Cơ sở 1: Số 62B, Đường Hòa Bình, P.5, Q.11, TP.HCM.

Cơ sở 2: 651 Lạc Long Quân, P.10, Q. Tân Bình, TP.HCM.

Cơ Sở 3: 96 Bạch Đằng , P.24 , Q. Bình Thạnh, TP. HCM

Theo monspet

Bệnh Động Kinh: Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Điều Trị / 2023

Theo chúng tôi Nguyễn Văn Liệu, động kinh hiện là căn bệnh phổ biến với nhiều nguyên nhân gây bệnh đa dạng có thể kể đến như:

Yếu tố di truyền: Theo các nhà khoa học, một số loại động kinh có sự liên kết với các gen cụ thể. Tuy nhiên, những gen này chỉ là yếu tố khiến người bệnh nhạy cảm hơn khi bị tác động bởi môi trường có thể gây ra những cơn động kinh. Nói một cách khác, gen chỉ là yếu tố có thể tác động chứ không phải yếu tố quyết định và chắc chắn gây bệnh.

Chấn thương sọ não: Những tai nạn nghiêm trọng khiến cho vùng nào bị chấn thương chính là một trong những nguyên nhân gây bệnh động kinh.

Những bệnh gây tổn thương não: Một số trường hợp xuất hiện những khối u trong não hoặc từng bị đột quỵ, thì nguy cơ mắc bệnh động kinh là rất lớn. Tổn thương não sẽ gây rối loạn hệ thần kinh trung ương khiến hoạt động não có nhiều thay đổi và tăng nguy cơ bị động kinh.

Một số bệnh như viêm màng não, viêm não, cấu trúc bất thường trong não không rõ nguyên nhân… cũng được cho là nguyên nhân gây bệnh.

Chấn thương trước khi sinh: Trẻ sơ sinh với hệ miễn dịch còn non nớt và rất nhạy cảm với những tổn thương ở não. Trong trường hợp mẹ bị nhiễm trùng, thiếu dinh dưỡng, em bé sinh ra có nguy cơ tổn thương não… sẽ dẫn đến chứng động kinh ở trẻ sơ sinh.

Với trẻ nhỏ, ngay cả khi sốt cao, co giật kéo dài cũng dễ tiến triển thành bệnh động kinh

Bên cạnh đó, thói quen sử dụng các loại thuốc chống trầm cảm, những chất kích thích như rượu bia, thuốc lá và ma túy cũng là một trong những nguyên nhân có thể dẫn tới bệnh động kinh.

Độ tuổi: Bệnh động kinh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn ở người già và trẻ em. Cụ thể, bệnh động kinh xuất hiện ở trẻ dưới 10 tuổi chiếm khoảng 40%, động kinh xuất hiện dưới 20 tuổi chiếm khoảng 50% và có xu hướng tăng lên sau 60 tuổi.

Tiền sử gia đình có người mắc bệnh động kinh;

Những đối tượng có vấn đề về não như bị chấn thương não, tổn thương não và nhiễm trùng não như viêm não, viêm tủy sống…

Người bị đột quỵ và các bệnh về mạch máu;

Bệnh sa sút trí tuệ (Dementia) có thể là nguyên nhân dẫn tới bệnh động kinh ở người lớn tuổi.

Những em bé bị sốt giật đều phải được thăm khám vì khi sốt cao đến co giật mà không được điều trị kịp thời có thể làm tăng nguy cơ mắc động kinh cho trẻ khi đến tuổi trưởng thành.

Các dạng động kinh phổ biến và dấu hiệu nhận biết

Dấu hiệu bệnh động kinh rất đa dạng. Động kinh được chia làm 2 dạng chính là động kinh cục bộ và động kinh toàn thể. Một số trường hợp, ban đầu là động kinh cục bộ, nhưng nếu không phát hiện và điều trị kịp thời sẽ phát triển thành động kinh toàn thể. Ở mỗi dạng bệnh, mỗi người bệnh động kinh lại có những biểu hiện cụ thể khác nhau khi lên cơn động kinh. ( 2)

1. Động kinh cục bộ

Những cơn động kinh cục bộ xuất hiện khi một phần trong não có hoạt động bất thường. Chính vì thế, những biểu hiện của bệnh cũng chỉ xảy ra ở một vài bộ phận trong cơ thể. Có thể chia động kinh cục bộ thành 2 dạng là động kinh cục bộ đơn giản và động kinh cục bộ phức tạp.

Động kinh cục bộ đơn giản: Bệnh nhân có thể bị co cứng hay co giật ở một phần của cơ thể, thị giác và khứu giác bất thường, tâm trạng lo lắng và sợ sệt điều gì đó mà không rõ nguyên nhân, cảm giác chóng mặt và khó chịu vùng dạ dày…

Động kinh cục bộ phức tạp: Khi cơn động kinh xảy ra, phần lớn người bệnh gần như mất nhận thức và không biết được cơn động kinh đang xảy ra. Họ nhìn chằm chằm, mặt đờ đẫn, giống như đang bị lú lẫn. Người bệnh thực hiện những hành vi vô nghĩa như xoa tay, xoay đầu và đi qua đi lại… Tỉnh lại sau cơn động kinh họ không hề nhớ những gì đã xảy ra.

2. Động kinh toàn thể

Những cơn động kinh toàn thể xuất hiện khi hoạt động phóng điện trong não xảy ra quá nhiều gây ảnh hưởng đến toàn thể não bộ. Hai dạng cơn động kinh toàn thể thường gặp nhất là cơn vắng ý thức và cơn co cứng – co giật toàn thể.

Cơn co cứng và co giật toàn thể: Đây là dạng động kinh phổ biến ở người trưởng thành và có những biểu hiện khá rõ ràng, được cho là dễ nhận biết nhất. Người bệnh có thể mất ý thức, dần mất thăng bằng và ngã xuống, có thể kèm theo tiếng kêu, la hét, nhưng không phải vì đau đớn. Lúc này, bệnh nhân cũng xuất hiện những cơn co giật thật sự, họ không thể kiểm soát được tay chân do sự rung giật của các cơ. Cơn động kinh có thể xảy ra trong vòng vài phút hoặc lâu hơn. Bệnh nhân có thể kèm theo tình trạng tiểu mất kiểm soát và sùi bọt mép.

Cơn vắng ý thức: Dạng động kinh này thường xảy ra ở trẻ em và hiếm gặp ở người lớn. Biểu hiện đặc trưng nhất của loại động kinh này là mất ý thức trong khoảng 5 – 15 giây, nhìn chằm chằm, đôi khi đảo mắt lên trên, trẻ đang cầm đồ bỗng nhiên đánh rơi… Vì những triệu chứng này mà nhiều trẻ bị động kinh thường không thể tập trung học và dẫn đến kết quả học tập sa sút nghiêm trọng.

Hội chứng West: Là một dạng động kinh toàn thể thường gặp ở trẻ sơ sinh từ 3 đến 8 tháng tuổi, sau đó dừng lại và chuyển sang một dạng động kinh khác khi trẻ lên 4 tuổi. Bệnh còn có tên gọi khác là chứng co thắt sơ sinh. Nguyên nhân phổ biến là do những vấn đề về gen, rối loạn chuyển hóa, ngạt khi sinh, nhiễm trùng não dẫn đến bất thường trong cấu trúc và chức năng của não.

Dạng động kinh đặc biệt này khiến trẻ bị chậm phát triển cả về thể chất và trí tuệ, ảnh hưởng đến quá trình học tập sau này và có thể dẫn tới tự kỷ. Một số biểu hiện bệnh như đầu trẻ gật mạnh xuống trong vài giây, toàn bộ cơ thể uốn cong về phía trước, tay và chân trẻ co gập lên phía trước. Mỗi cơn động kinh có thể chỉ kéo dài 2 giây rồi dừng lại, sau đó lại tiếp tục thành chuỗi cơn co thắt liên tục.

Các phương pháp chẩn đoán bệnh động kinh

Để chẩn đoán bệnh động kinh, các chuyên gia sẽ thực hiện khám lâm sàng trước, sau đó kết hợp với các phương tiện kỹ thuật hiện đại để có được kết quả chính xác nhất. ( 3)

1. Khám lâm sàng

Khai thác về tiền sử bệnh, triệu chứng lâm sàng của người bệnh

Kiểm tra hành vi, kỹ năng vận động người bệnh để các định dạng động kinh mà người đó có thể mắc phải.

2. Thực hiện các loại xét nghiệm để thấy rõ tổn thương trong não

Sau khi thăm khám lâm sàng, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân thực hiện thêm những thủ tục sau để kết quả được chính xác nhất có thể:

Điện não đồ: Đây được đánh giá là phương pháp phổ biến nhất được sử dụng trong quá trình chẩn đoán bệnh động kinh. Chuyên gia sẽ dùng các điện cực để ghi lại hoạt động điện của não. Nếu bệnh nhân bị động kinh thì mô hình sóng não cũng thay đổi bất thường ngay cả khi họ chưa lên cơn co giật.

Chụp cắt lớp vi tính (CT) quét: Với phương pháp này, bác sĩ sẽ thấy hình ảnh não được cắt ngang và những những tổn thương của não như khối u hay hiện tượng chảy máu não.

Chụp cộng hưởng từ (MRI): Là cách sử dụng sóng vô tuyến và nam châm để chuyên gia được nhìn chi tiết về bộ não và phát hiện ra những tổn thương hay bất thường trong não – nguyên nhân gây ra những cơn động kinh.

Bệnh động kinh nguy hiểm như thế nào?

Bệnh động kinh có thể chữa được nhưng nếu không điều trị, biến chứng của bệnh vô cùng nguy hiểm và thậm chí đe dọa đến tính mạng của người bệnh.

Đối với trẻ sơ sinh bị động kinh: Trẻ có nguy cơ ngạt chu sinh, nhiễm trùng hệ thần kinh, dị tật bẩm sinh, xuất huyết não, giảm calci, giảm đường máu, rối loạn chuyển hóa.

Đối trẻ nhỏ bị động kinh: Trẻ có thể phải đối mặt với những di chứng tổn thương não.

Thanh thiếu niên bị động kinh, đặc biệt là động kinh thể vắng: Có nguy cơ đuối nước khi bơi lội, hoặc ngã khi leo trèo và kết quả học tập sa sút nghiêm trọng do giảm khả năng tập trung.

Đối với những người trưởng thành: Vô cùng nguy hiểm nếu bệnh nhân lên cơn động kinh khi đang lái xe hoặc điều khiển những loại máy móc ở trên cao… Những tình huống như vậy có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh.

Đặc biệt, đối với phụ nữ và người cao tuổi, động kinh là một căn bệnh đáng sợ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, công việc hằng ngày và thậm chí là thiên chức làm mẹ.

Bệnh động kinh không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh mà còn gây áp lực tâm lý rất lớn cho người bệnh. Đối với nhiều bệnh nhân động kinh, chính thái độ tiêu cực của cộng đồng đã khiến cho họ luôn cảm thấy mặc cảm, tự ti và khó hòa nhập với cuộc sống.

Những quan niệm sai lầm về động kinh

1. Động kinh là do ma quỷ gây ra

“Bệnh động kinh khiến em luôn phải sống trong sợ hãi. Em sợ bị bạn bè cười chê em là đồ ma ám. Em cũng muốn chơi đùa vui vẻ với các bạn, cũng muốn mỗi ngày đến trường là một ngày vui; nhưng em lo khi lên cơn, em sẽ không thể giấu bệnh được nữa và nếu thế thì sẽ chẳng còn ai muốn chơi với em. Mẹ em cũng nói mẹ lo sau này không ai dám lấy em nên cấm tiệt em không được nói về bệnh tình của em với người lạ”, N.H.H 17 tuổi (TP. Hưng Yên) chia sẻ.

Trường hợp của em N.H.H chỉ là một trong số rất nhiều bệnh nhân động kinh đang phải đối mặt với sự kỳ thị của cộng đồng. Nhiều người cho rằng, bệnh động kinh do một thế lực thần thánh hoặc ma quỷ nào đó gây ra. Nhưng đó là quan điểm sai lầm và cần phải gạt bỏ ngay lập tức.

Em N.H.H được PGS.TS.BSCKII Nguyễn Văn Liệu – Chuyên gia đầu ngành về Thần kinh, Cố vấn chuyên môn, bác sĩ khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Hà Nội trực tiếp điều trị. Hiện tại N.H.H đã được khỏi bệnh, em học tập tốt và đã có thể hòa nhập với các bạn trong lớp.

2. Phụ nữ mắc bệnh động kinh không thể hoặc không nên mang thai

Phụ nữ mắc động kinh thường phải chịu tiếng ác là không thể sinh con hoặc nếu sinh được thì có thể di truyền bệnh cho con. Bởi vậy, một khi bệnh bị tiết lộ ra ngoài, mặc dù họ có hoàn hảo đến mấy thì cũng rất khó có cơ hội lập gia đình. Đây là quan niệm sai lầm và cần phải loại bỏ, thậm chí trên thế giới từng có những phong trào bảo vệ quyền có con của phụ nữ bị động kinh.

Chính sự kỳ thị quá mức và quan điểm sai lầm của cộng đồng đã khiến cho những người phụ nữ này phải chịu quá nhiều sức ép tâm lý và đau đớn hơn là bị tước mất quyền làm mẹ thiêng liêng. Thực tế là, nếu đã được điều trị cắt cơn, bệnh nhân vẫn có thể mang thai bình thường. Bác sĩ sẽ lựa chọn những loại thuốc phù hợp để giảm nguy cơ dị tật thai nhi.

3. Người mắc bệnh động kinh luôn bị co giật

Các loại động kinh khác nhau sẽ có biểu hiện khác nhau. Vì thế, có thể khẳng định, triệu chứng bệnh động kinh rất đa dạng. Ngoài những cơn co giật, sùi bọt mép hay mắt trợn ngược, người mắc động kinh có thể gặp phải nhiều dấu hiệu khác như cảm giác sợ hãi, mặt đờ đẫn,…

4. Bệnh động kinh không thể chữa khỏi

Quan điểm này hoàn toàn sai lầm. Bệnh động kinh là bệnh cần chữa và hoàn toàn có thể chữa khỏi. Thực tế, rất nhiều bệnh nhân đã được điều trị khỏi bệnh và trở lại cuộc sống bình thường. Một số phương pháp điều trị phổ biến là phẫu thuật hoặc thuốc kháng động kinh. Bên cạnh đó, tùy vào dạng bệnh và thể trạng của bệnh nhân, bác sĩ sẽ đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

5. Động kinh là một dạng bệnh tâm thần

Phần lớn, trường hợp mắc bệnh động kinh phải chịu tiếng oan là người bệnh tâm thần. Sự thật là, động kinh không phải là một bệnh tâm thần. Ngoại trừ những lúc lên cơn, người mắc động kinh vẫn tỉnh táo và có thể sinh hoạt bình thường.

Điều trị bệnh động kinh tại BVĐK Tâm Anh

Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận những khó khăn và bất lợi mà các trường hợp mắc bệnh động kinh đang gặp phải, phần lớn là do quan điểm sai lầm, thái độ không đúng của cả cộng đồng về căn bệnh này. Chính vì thế, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã phát động chiến dịch toàn cầu với mục tiêu chống lại động kinh, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người mắc bệnh.

PGS.TS.BSCKII Nguyễn Văn Liệu – chuyên gia đầu ngành về Thần kinh cũng khẳng định: ” Bệnh động kinh là bệnh cần chữa và có thể chữa khỏi hoàn toàn. Tỉ lệ chữa khỏi bệnh khá cao, có thể lên tới 70%. Nghĩa là khoảng 70% người bệnh có thể cắt được cơn động kinh và trở lại cuộc sống bình thường sau một quá trình điều trị từ 2,5 – 3 năm. 30% còn lại tuy không thể khỏi hoàn toàn nhưng họ vẫn có thể dùng thuốc để duy trì và đảm bảo một cuộc sống khỏe mạnh “.

Đã có rất nhiều ca bệnh được điều trị thành công, họ đã cắt được cơn động kinh và trở lại cuộc sống bình thường. Trường hợp anh N.H.D 32 tuổi (Huyện Ngọc Lặc – Thanh Hoá) là một ví dụ.

Phát hiện mình mắc bệnh động kinh là một cú sốc lớn với anh N.H.D. Mọi thứ dường như sụp đổ. Từ một công nhân năng nổ, xốc vác, anh trở nên khép mình, sống trong mặc cảm và lo sợ. D. đau khổ vì anh không còn được làm việc, vì không còn được kiếm tiền và không thể là trụ cột của gia đình. Thay vì chăm sóc cho vợ con, giờ đây anh lại trở thành gánh nặng của cả nhà.

“Từ ngày tôi bị bệnh, mọi thứ trong ngoài đều do một tay vợ tôi quán xuyến, tôi biết vợ tôi áp lực nhiều lắm, họ hàng nhiều người không hiểu cứ nói tôi giở trò làm biếng, bị ma nhập rồi ăn bám vợ, vậy mà vợ tôi vẫn im lặng, bện cạnh giúp tôi giữ vững tinh thần để điều trị bệnh… Đàn ông mà không đi làm nuôi vợ con thì sống không bằng chết, đau lắm”, anh D. tâm sự.

Thế rồi mọi nỗ lực cũng được đền đáp, anh D. may mắn biết đến và được bác sĩ Liệu trực tiếp thăm khám, điều trị qua. N.H.D cuối cùng đã khỏi bệnh, tìm được công việc mới, có thêm thu nhập lo cho vợ con và đang dần ổn định cuộc sống.

Anh D. xúc động chia sẻ: “Hơn 4 năm rồi, tôi không còn biết đến những cơn động kinh là gì cả. Nhờ bác sĩ Liệu mà mọi thứ tốt đẹp đã đến với tôi. Tôi không những sinh hoạt bình thường mà còn kiếm được công việc thu nhập tốt và đã có thể lo toan mọi thứ trong nhà cùng vợ tôi, các con tôi thấy bố khỏe mạnh thì các cháu mừng lắm, học hành chăm chỉ và tốt lên hẳn”.

Các phương pháp điều trị bệnh động kinh tại BVĐK Tâm Anh

Phương pháp điều trị động kinh phổ biến là điều trị nội khoa và điều trị nội khoa. Bác sĩ sẽ dựa vào từng trường hợp bệnh cụ thể để lựa chọn phương pháp phù hợp:

1. Điều trị bệnh động kinh bằng nội khoa

Phần lớn, bệnh nhân động kinh sẽ được sử dụng thuốc kháng động kinh để hạn chế những cơn co giật. Bác sĩ có thể sử dụng 1 hoặc kết hợp nhiều loại thuốc tùy theo thể trạng và mức độ động kinh của người bệnh. Khi sử dụng thuốc, bệnh nhân có thể lưu ý với một số tác dụng phụ như mệt mỏi, tăng cân và xuất hiện tình trạng phát ban, chóng mặt.

Sự kiên trì mang tính quyết định trong quá trình điều trị bệnh vì các loại thuốc kháng động kinh thường phải sử dụng lâu dài và theo đúng chỉ định của bác sĩ. Bệnh nhân cần hỏi ý kiến bác sĩ về các thuốc điều trị khác trước khi sử dụng. Dù ở bất cứ trường hợp nào, người bệnh cũng tuyệt đối không được bỏ thuốc. Bên cạnh đó, họ cần được các bác sĩ chuyên khoa thần kinh theo dõi và điều trị liên tục.

Sự hợp tác giữa người bệnh với bác sĩ cũng rất quan trọng. Trong quá trình điều trị, nếu cảm thấy tâm trạng chán nản, mệt mỏi hoặc gặp phải tình trạng bất thường về sức khỏe thì cần thông báo với bác sĩ ngay lập tức.

Ngoài ra, nếu người bệnh vẫn sử dụng rượu, bia, thuốc lá, cà phê… sẽ khiến hệ thần kinh càng bị ảnh hưởng nghiêm trọng và dẫn đến việc điều trị khó khăn, bệnh dễ tái phát.

2. Điều trị bằng phương pháp phẫu thuật

Với một số bệnh nhân kháng thuốc hoặc điều trị thuốc nhưng không mang lại hiệu quả cao, vẫn xuất hiện những cơn co giật thì cần phải sử dụng đến phương pháp phẫu thuật.

Sau khi hoàn tất quá trình thăm khám, kiểm tra xem bệnh nhân có thể đáp ứng được đầy đủ tiêu chuẩn phẫu thuật và xác định những vị trí bị tổn thương của người bệnh, các bác sĩ sẽ tiến hành phẫu thuật.

3. Bệnh động kinh có chữa khỏi được không?

Bệnh nhân giật kinh phong càng được điều trị sớm thì cơ hội khỏi bệnh sẽ càng cao. Với những trường hợp cần phẫu thuật cũng nên thực hiện sớm vì để lâu tổn thương não “lan rộng” sẽ khiến quá trình phẫu thuật khó khăn, phức tạp hơn và bệnh có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống và sức khỏe người bệnh.

Theo PGS.TS.BSCKII Nguyễn Văn Liệu: “Động kinh không phải là bệnh tâm thần vì ngoài những cơn co giật, người bệnh vẫn có thể học tập và sinh hoạt bình thường. Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, bệnh nhân luôn cần sự quan tâm của gia đình, người thân và sự cảm thông của cả cộng đồng để họ có thể sống một cuộc sống bình thường”.

108 Hoàng Như Tiếp, P.Bồ Đề, chúng tôi Biên, TP.Hà Nội

2B Phổ Quang, P.2, Q.Tân Bình, TP.Hồ Chí Minh

Dấu Hiệu Nhận Biết Hạ Huyết Áp Và Cách Điều Trị / 2023

Huyết áp thấp là tình trạng huyết áp giảm đột ngột dưới 90/60 mmHg. Khi gặp tình trạng này, người bệnh sẽ có những biểu hiện khác nhau. Nếu không được chữa trị kịp thời, bệnh sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng đối với sức khỏe, đặc biệt là đối với người cao tuổi.

Các triệu chứng hạ huyết áp

Huyết áp thấp đôi khi xuất hiện do não và các cơ quan quan trọng khác không được cung cấp đủ máu, dẫn đến các triệu chứng như:

Chóng mặt hoặc choáng váng;

Mất thăng bằng;

Ngất xỉu;

Hoa mắt;

Rối loạn nhịp tim (đánh trống ngực);

Cảm thấy buồn nôn;

Mệt mỏi, lả người.

Phải làm gì khi bị hạ huyết áp?

Khi thấy bản thân có những dấu hiệu hạ huyết áp ở trên, bạn nên:

Tạm dừng việc đang làm;

Ngồi hoặc nằm xuống;

Uống một ít nước.

Khi bạn nghỉ ngơi và cung cấp đủ nước cho cơ thể, các triệu chứng thường sẽ dịu đi sau vài giây hoặc vài phút.

Đứng lên từ từ, đặc biệt là vào buổi sáng. Bạn cũng có thể thực hiện một vài động tác vận động để tăng nhịp tim và tăng lưu thông máu quanh cơ thể, chẳng hạn như duỗi người trước khi thức dậy hoặc vận động chân khi chuẩn bị rời ghế ngồi;

Tránh đứng lâu trong một khoảng thời gian dài;

Đeo vớ hỗ trợ (vớ áp lực) để cung cấp thêm áp lực lên chân và bụng, giúp cải thiện tuần hoàn máu và tăng huyết áp. Tuy nhiên, bạn nên trao đổi với bác sĩ trước khi sử dụng các loại vớ y khoa vì chúng chỉ thích hợp dùng trong một số trường hợp;

Bạn cần tránh dùng đồ uống chứa caffeine vào ban đêm và hạn chế uống rượu, vì điều này giúp cơ thể tránh bị mất nước và gây ra tình trạng huyết áp thấp;

Chia nhỏ bữa ăn sẽ giúp bạn ngăn ngừa hạ huyết áp sau khi ăn. Ngoài ra, nằm nghỉ ngơi sau khi ăn hoặc ngồi yên trong một thời gian cũng có thể giúp ổn định huyết áp.

Bổ sung lượng nước và muối vừa đủ

Mất nước có thể gây ra huyết áp thấp. Tình trạng này có thể dễ dàng khắc phục bằng cách tăng lượng nước và muối nạp vào cơ thể, vì điều này sẽ giúp tăng lượng máu, giúp ổn định huyết áp.

Tuy nhiên, bạn không nên dùng muối tùy tiện mà nên gặp bác sĩ để được tư vấn về lượng muối thích hợp mà bạn cần bổ sung.

Thay đổi thuốc uống

Nếu nghi ngờ loại thuốc đang dùng gây ra tình trạng huyết áp thấp, bạn nên đến gặp bác sĩ ngay lập tức để được tư vấn hoặc thay đổi loại thuốc khác.

Bạn cần theo dõi huyết áp cũng như chú ý đến những biểu hiện khác thường của sức khỏe trong quá trình dùng một loại thuốc nào đó.

Điều trị các triệu chứng tiềm ẩn

Nếu bác sĩ nghi ngờ huyết áp thấp là do tình trạng sức khỏe tiềm ẩn, bạn cần đến bệnh viện để được kiểm tra và điều trị chuyên sâu.

Chửa Trứng: Dấu Hiệu Nhận Biết, Cách Điều Trị Và Dự Phòng / 2023

Chửa trứng được xem là một biến chứng thai sản hiếm, gặp ở 1/1200 phụ nữ mang thai. Bệnh thường được phát hiện ở thời gian đầu của thai kỳ, có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng và cần được điều trị ngay khi phát hiện.

Chửa trứng là gì?

Là tình trạng phát triển nhanh và bất thường của một phần hoặc toàn bộ nhau thai tương ứng với 2 nhóm:

Chửa trứng bán phần: Nhau thai và bào thai đều phát triển bất thường do sự kết hợp giữa trứng bình thường với 2 tinh trùng. Bào thai tuy vẫn hình thành và phát triển nhưng thường chỉ sống sót được trong thời gian 3 tháng.

Chửa trứng toàn phần: Nhau thai phát triển bất thường và không có bào thai gây ra do sự thụ tinh giữa tinh trùng bình thường với trứng không mang thông tin di truyền.

Nhau thai trở nên to dần và chứa nhiều nang (túi dịch). Do đó, khối nhau thai trên siêu âm có hình ảnh giống chùm nho.

Tại sao chửa trứng lại hình thành?

Các chuyên gia vẫn chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây chửa trứng. Tuy nhiên, những phụ nữ chửa trứng có một số đặc điểm tương đồng, bao gồm:

Tuổi dưới 18 hoặc trên 35;

Người gốc Á hoặc Mexico;

Chế độ ăn ít caroten (tiền chất của vitamin A);

Tiền sử sản khoa: tiền sử thai trứng hoặc bệnh lý nguyên bào nuôi do thai nghén khác.

Triệu chứng của chửa trứng là gì?

Triệu chứng nghén nặng (nôn, buồn nôn): gặp trong 25-30% trường hợp.

Rong huyết: chiếm trên 90% trường hợp chửa trứng. Máu ra ở âm đạo tự nhiên, máu sẫm đen hoặc đỏ loãng, ra kéo dài.

Có các triệu chứng cường giáp (10%): Tim đập nhanh, đánh trống ngực, phân lỏng, hồi hộp, lo lắng, da ấm và ẩm, sụt cân.

Triệu chứng tiền sản giật (10%): Tăng huyết áp, phù (cẳng chân, mắt cá chân, bàn chân).

Cần làm những xét nghiệm hay kiểm tra nào để chẩn đoán chửa trứng?

Khám thực thể: Tử cung mềm, kích thước tử cung lớn hơn tuổi thai, không sờ được phần thai, không nghe được tim thai.

Siêu âm: Trên siêu âm thấy hình ảnh tuyết rơi hoặc lỗ chỗ như tổ ong, có thể thấy nang hoàng tuyến hai bên, không thấy phôi thai (chửa trứng toàn phần). Trong chửa trứng bán phần thì khó phân biệt hơn với thai lưu, có thể thấy một phần bánh nhau bất thường.

Định lượng β-hCG: Là xét nghiệm cơ bản để chẩn đoán và theo dõi chửa trứng. Lượng β-hCG tăng trên 100.000mUI/ml.

Điều trị chửa trứng như thế nào?

Chửa trứng thường không gây hại và biện pháp điều trị là loại bỏ khối phát triển bất thường này trong tử cung. Phương pháp chủ yếu được áp dụng đó là nạo hút trứng. Nạo hút cần được thực hiện ngay sau khi chẩn đoán để dự phòng sẩy tự nhiên gây băng huyết.

Bên cạnh đó, cắt tử cung toàn phần cả khối hoặc cắt tử cung toàn phần sau nạo hút trứng thường được áp dụng ở các phụ nữ không muốn có con nữa hoặc trên 40 tuổi và trường hợp chửa trứng xâm lấn làm thủng tử cung.

Khi nào có thể quan hệ tình dục và mang thai trở lại sau khi bị chửa trứng?

Bạn có thể bắt đầu quan hệ tình dục trở lại ngay khi cảm thấy cơ thể hồi phục về mặt thể lực và cảm xúc. Nếu bạn bị chảy máu sau khi điều trị chửa trứng, bạn nên kiêng quan hệ cho đến khi khỏi hoàn toàn.

Tiền sử chửa trứng không hề ảnh hưởng đến khả năng mang thai trở lại, và nguy cơ tái chửa chứng là rất thấp (khoảng 1 trong 80 trường hợp). Tuy nhiên, bạn không nên cố gắng mang thai ngay sau khi điều trị chửa trứng. Lý do là thai mới hình thành sẽ làm nồng độ hCG tăng cao, dẫn đến khó khăn trong chẩn đoán phân biệt hCG tăng do thai mới hay do bệnh lý chửa trứng vẫn còn tồn dư. Bạn nên chờ tối thiểu đến khi có kinh nguyệt trở lại. Trong thời gian chờ đó bạn nên sử dụng khác biện pháp tránh thai phù hợp.

Chửa trứng có nguy cơ tái phát không?

Tái phát chửa trứng khá ít gặp (tỉ lệ khoảng 1%). Nếu bạn có tiền sử chửa trứng, bạn nên báo với bác sĩ để thực hiện siêu âm thai sớm nhằm phát hiện sớm nếu tình trạng này thái phát. Bên cạnh đó, 6 tuần sau khi sinh em bé, bạn nên làm xét nghiệm định lượng hCG để chắc chắn rằng nồng độ hCG giảm xuống và bạn không hình thành thai trứng nào khác (đây là tình trạng rất hiếm).

2. ” Hydatidiform mole “, The Royal Woman’s Hospital, June 2014

3. ” Hydatidiform mole “, MedlinePlus, last reviewed: 25 September 2018

4. ” Molar Pregnancy “, American Pregnancy Association, last updated: October 10, 2019

5. ” Molar pregnancy “, National Health Service (NHS), last reviewed: 20 July 2017

Bạn đang đọc nội dung bài viết Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Điều Trị Bệnh Canine Influenza (Dog Flu) / 2023 trên website Mgwbeautypageant.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!