Top 2 # Xem Nhiều Nhất Bệnh Bạch Hầu Nguyên Nhân Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Mgwbeautypageant.com

Bệnh Bạch Hầu: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Điều Trị

Bệnh bạch hầu: nguyên nhân, triệu chứng, điều trị

Đến khám bác sỹ ngay nếu bạn thấy mình có các dấu hiệu nghi ngờ bệnh bạch hầu. Nếu không được điều trị, bệnh bạch hầu có thể gây ra những tổn thương nghiêm trọng cho thận, hệ thần kinh trung ương và tim. Tỷ lệ tử vong của bệnh bạch hầu là khoảng 3% trong tổng số ca mắc bạch hầu.

Nguyên nhân gây bệnh bạch hầu

Một loại vi khuẩn tên là Corynebacterium diphtheria gây ra bệnh bạch hầu. Bệnh thường truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc thông qua việc tiếp xúc với các đồ vật có chứa vi khuẩn, ví dụ như cốc hoặc khăn giấy đã qua sử dụng. Bạn cũng có thể bị nhiễm bạch hầu nếu bạn ở gần những người bệnh mà họ lại ho, hắt hơi hoặc xì mũi. Kể cả khi người bệnh không biểu hiện triệu chứng của bệnh thì họ vẫn có khả năng lây truyền vi khuẩn cho người khác sau khoảng 6 tuần, kể từ khi bắt đầu nhiễm khuẩn.

Vi khuẩn bạch hầu thường ảnh hưởng nhiều nhất đến mũi và họng. Một khi bạn đã bị nhiễm khuẩn, vi khuẩn sẽ giải phóng ra độc tố, độc tố này sẽ xâm nhập vào dòng máu, gây ra các lớp màng dày, màu xám ở:

Trong một số trường hợp, những độc tố do vi khuẩn tiết ra có thể gây tổn thương đến các cơ quan khác trong cơ thể, bao gồm tim, não và thận. Do vậy, bệnh có thể dẫn đến những biến chứng đe dọa tính mạng, ví dụ như viêm cơ tim, liệt hoặc suy thận.

Các yếu tố nguy cơ của bệnh bạch hầu

Trẻ em thường được tiêm phòng bệnh bạch hầu từ khi mới sinh nên bệnh rất hiếm gặp. Tuy nhiên, ở những địa phương có tỷ lệ tiêm chủng vaccine bạch hầu thấp, thì bệnh vẫn có thể lây lan. Ở những địa phương này, trẻ em dưới 5 tuổi và người cao tuổi trên 60 tuổi là những đối tượng nguy cơ cao dễ mắc bệnh bạch hầu.

Những người sau đây cũng sẽ có nguy cơ mắc bệnh bạch hầu cao hơn nếu:

Không được tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch

Đi du lịch đến một đất nước không tiêm chủng vaccine bạch hầu

Bị các rối loạn miễn dịch, ví dụ như bị AIDS

Sống trong điều kiện môi trường không vệ sinh hoặc quá đông đúc, chật hẹp

Triệu chứng của bệnh bạch hầu

Triệu chứng của bệnh bạch hầu thường sẽ xuất hiện trong vòng 2-5 ngày sau khi bị nhiễm vi khuẩn. Một số người sẽ không biểu hiện bất cứ triệu chứng nào trong khi một số người khác sẽ xuất hiện các triệu chứng nhẹ và thường bị nhầm là nhiễm cảm lạnh thông thường.

Triệu chứng dễ nhận thấy và phổ biến nhất của bệnh bạch hầu là hình thành mảng màu xám, dày ở họng và amiđan. Các triệu chứng phổ biến khác bao gồm:

Sốt

Ớn lạnh

Sưng các tuyến ở cổ

Ho như chó sủa

Viêm họng, sưng họng

Da xanh tái

Chảy nước dãi

Có cảm giác lo lắng, sợ hãi nói chung.

Ngoài ra, một số triệu chứng khác có thể sẽ xuất hiện thêm trong quá trình bệnh tiến triển, bao gồm:

Khó thở hoặc khó nuốt

Thay đổi thị lực

Nói lắp

Các dấu hiệu sốc, ví dụ như da tái và lạnh, vã mồ hôi và tim đập nhanh

Bạn cũng có thể bị bệnh bạch hầu ở da nếu bạn sống ở các vùng nhiệt đới hoặc sống trong môi trường vệ sinh không đảm bảo. Bạch hầu da thường gây ra các vết loét và mẩn đỏ trên da.

Chẩn đoán bạch hầu

Bác sỹ sẽ thăm khám để kiểm tra các hạch bạch huyết có bị sưng hay không. Bác sỹ cũng có thể sẽ hỏi bạn về tiền sử bệnh tật và các triệu chứng đã xuất hiện.

Nếu bạn có những mảng màu xám phủ lên họng hoặc amiđan, thì bác sỹ sẽ nghi ngờ bạn bị bạch hầu. Để chẩn đoán xác định, mẫu mô ở vùng bị ảnh hưởng sẽ được lấy để đem đi xét nghiệm.

Điều trị bệnh bạch hầu

Bệnh bạch hầu là một bệnh nguy hiểm, do vậy, bác sỹ sẽ điều trị thật nhanh và triệt để.

Bước đầu tiên trong việc điều trị là tiêm thuốc chống độc. Loại thuốc này được sử dụng để chống lại các loại độc tố do vi khuẩn bạch hầu tiết ra. Đảm bảo rằng bạn đã nói với bác sỹ nếu mình bị dị ứng với các thuốc chống độc. Trong trường hợp này, bạn có thể sẽ được tiêm liều nhỏ thuốc chống độc và tăng dần liều thuốc trong quá trình điều trị. Bác sỹ có thể kê đơn một vài loại thuốc kháng sinh như erythromycin và penicillin để tiêu diệt vi khuẩn.

Trong suốt quá trình điều trị, bạn phải nằm viện để tránh lây nhiễm cho những người xung quanh.

Dự phòng bệnh bạch hầu Bệnh bạch hầu là bệnh có thể dự phòng dược bằng việc sử dụng kháng sinh và vaccine.

Vaccine phòng bệnh bạch hầu thường được tiêm phối hợp với vaccine phòng uốn ván và ho gà (vaccin DPT) trong chương trình tiêm chủng mở rộng hoặc phối hợp trong vaccin 5 trong 1 (bạch hầu – uốn ván – ho gà – viêm gan B – Hib). Vaccin DPT thường sẽ được tiêm mũi đầu tiên khi trẻ đủ 2 tháng tuổi. Mũi tiêm thứ 2 và thứ 3 sẽ được tiêm khi trẻ đủ 3 tháng và 4 tháng (tức là mỗi mũi tiêm cách nhau 1 tháng). Vaccine DPT sẽ được tiêm nhắc lại khi trẻ đủ 18 tháng tuổi.

Trong những trường hợp hiếm gặp, trẻ có thể sẽ xuất hiện phản ứng dị ứng với vaccine. Phản ứng dị ứng có thể là phát ban hoặc co giật và sẽ tự hết sau một vài ngày.

Với người trưởng thành, khuyến cáo nên tiêm phối hợp vaccine bạch hầu và uốn ván. Bằng việc tiêm vaccine, bạn có thể bảo vệ trẻ và bản thân không bị bệnh bạch hầu trong tương lai.

Bệnh Bạch Hầu: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị

1. Bệnh bạch hầu là gì?

Bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm trùng cấp tính lây theo đường hô hấp do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Đặc điểm lâm sàng là có màng giả xuất hiện ở chỗ nhiễm trùng. Bệnh xuất hiện chủ yếu ở vùng hầu, họng, thanh quản, mũi, có thể ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt, bộ phận sinh dục.

2. Nguyên nhân gây bệnh bạch hầu

Tác nhân gây bệnh bạch hầu:

Bệnh bạch cầu gây ra bởi vi khuẩn bạch cầu Corynebacterium diphtheriae là một trực khuẩn gram dương ái khí, không di động. Vi khuẩn bạch hầu có 3 typ là Gravis, Mitis và Intermedius.

Vi khuẩn chỉ sản xuất được độc tố (tính sinh độc tố: toxigenicity) khi chính bản thân vi khuẩn này bị nhiễm một loại virus đặc biệt gọi là thực khuẩn bào (bacteriophage) có mang thông tin di truyền của độc tố (gọi là tox gene).

Độc tố bị trung hòa bởi kháng độc tố khi còn lưu hành trong máu, sự tổng hợp độc tố phụ 2 yếu tố: vi khuẩn có mang gen Tox và yếu tố dinh dưỡng. Cả 2 chủng có sản xuất và không sản xuất độc tố đều có thể gây bệnh, nhưng chỉ có chủng sản xuất độc tố mới gây viêm cơ tim và viêm dây thần kinh.

Nguồn truyền nhiễm:

Ổ chứa: ổ chứa vi khuẩn bạch hầu là ở người bệnh và người lành mang vi khuẩn.

Ủ bệnh: từ 2-5 ngày hoặc có thể lâu hơn.

Thời kỳ lây truyền: không cố định thời gian khoảng 2 tuần hoặc ngắn hơn, thường ít khi trên 4 tuần. Đối với người lành mang vi khuẩn bạch hầu có thể từ vài ngày đến 3,4 tuần, hiếm khi kéo dài tới 6 tháng.

Phương thức lây truyền:

Bệnh bạch hầu được lây truyền qua đường hô hấp do tiếp xúc với người bệnh hoặc người mang mầm bệnh.

Lây truyền trực tiếp: người bệnh ho, hắc xì,… tạo ra một màn hơi trong không khí chứa vi khuẩn và mọi người xung quanh hít phải. Nhất là nơi công cộng, phòng khám bệnh viện, trường học, nhà trẻ,…

Lây truyền gián tiếp: sử dụng chung đồ vật có dính chất bài tiết của người bệnh như ly, khăn, quần áo, đồ chơi trẻ em,…

Nguy cơ cao mắc bệnh:

– Không được tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch theo quy định.– Những người sống trong khu vực đông đúc, chật hẹp và mất vệ sinh.– Những người du lịch đến nơi đang có dịch bạch cầu xảy ra– Những người bị hội chứng suy giảm hệ miễn dịch như bị nhiễm AIDS.

3. Triệu chứng, dấu hiệu bệnh bạch hầu

Trong vòng 2-5 ngày sau khi nhiễm khuẩn bạch hầu người bệnh sẽ có một số triệu chứng sau:

– Hình thành mảng màu xám, dày ở họng và amidan.– Sốt, ớn lạnh.– Sưng các hạch ở cổ.– Ho, đau họng, khàn tiếng.– Sổ mũi, chảy nước dãi.– Mệt mỏi, da xanh tái, toàn thân đau nhức– Khó thở hoặc thở gấp, thở nhanh nông. Khó nuốt.– Thay đổi thị lực.– Nói lắp, hồi hộp, lo lắng.

Bệnh bạch hầu thanh quản là thể nặng ở trẻ em 2- 5 tuổi, thường do hậu quả của điều trị kịp thời, diễn biến qua 3 giai đoạn: giai đoạn khản tiếng, giai đoạn khó thở, giai đoạn ngạt. Biểu hiện lâm sàng bị nhiễm ngoại độc tố bạch hầu tại chỗ là giả mạc, biểu hiện toàn thân là nhiễm độc thần kinh, làm tê liệt thần kinh sọ não, thần kinh vận động ngoại biên và thần kinh cảm giác, viêm cơ tim, tỉ lệ tử vong 5 -10%.

Các phương pháp chẩn đoán bệnh bạch hầu:

– Dựa vào biểu hiện lâm sàng: nhiễm độc toàn thân nặng, sốt nhẹ.– Xét nghiệm: lấy chất dịch nhầy ở thành họng hoặc giả mạc tại chỗ viêm làm mẫu bệnh phẩm. Dùng phương pháp soi kính hiển vi làm tiêu bản nhuộm Gram soi kính hiển vi, trực khuẩn bắt màu Gram (+), hai đầu to. Nhuộm Albert trực khuẩn bắt màu xanh.– Chuẩn đoán phân biệt với một số bệnh tương tự: viêm họng do tụ cầu, liên cầu, viêm họng Plaut – Vencent.

4. Điều trị bệnh bạch hầu

Bệnh bạch hầu là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cần phải điều trị sớm và triệt để.

Nguyên tắc điều trị:

Trung hòa độc tố bằng kháng độc tố bạch hầu: Serum Anti Diphtheriae – SAD được điều chế từ huyết thanh ngựa. Biện pháp tốt nhất cần phải dùng sớm ngay từ khi phát hiện ra bệnh, chỉ có tác dụng với các độc tố còn lưu hành trong máu.

Kháng sinh diệt vi khuẩn: dùng theo chỉ định của bác sĩ như kháng sinh Penicllin, Ampicilin, Erythromycin, Rifampycin, Clindamycin, Cephalosporin,…

Chống bội nhiễm và tái phát.

Điều trị tại giường, nghỉ ngơi tuyệt đối theo dõi, ngăn ngừa và điều trị các hội chứng.

Dinh dưỡng đầy đủ cho bệnh nhân mau chóng phục hồi thể lực.

Điều trị triệu chứng, phòng các biến chứng:

Cần tuyệt đối nghỉ ngơi ít nhất 2-3 tuần, khi có biến chứng nhất là viêm cơ tim thì phải nghỉ ngơi khoảng 2 tháng.Sử dụng trợ tim, hô hấp, an thần.Ăn thức lỏng, dễ tiêu hóa.

Tiêu chuẩn để được xuất viện:

Hết sốt, hết màng giả, thể trạng sức khỏe tốt trở lại.Hết các biến chứng.Xét nghiệm nhầy họng cấy khuẩn âm tính 2 lần cách nhau ít nhất 7 ngày.

5. Phòng ngừa bệnh bạch hầu

“Điểm Danh” Nguyên Nhân Và Các Triệu Chứng Của Bệnh Bạch Hầu

Bạch hầu là bệnh truyền nhiễm do trực khuẩn bạch hầu gây ra. Vi khuẩn này tiết ra ngoại độc tố gây tổn thương cho nhiều tổ chức và cơ quan của cơ thể.

Bệnh bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng nhiễm độc do trực khuẩn bạch hầu (Corynebacterium diphtheria) gây ra. Đây là một loại trực khuẩn, có 3 týp là Gravis, Mitis và Intermedius. Trực khuẩn bạch hầu sống rất lâu trong giả mạc và trong họng của những bệnh nhân đang ở thời kỳ lại sức (ở chỗ viêm, tới 6 tháng sau cấy vi khuẩn vẫn còn mọc).

Người ta cũng thấy nó sống rất lâu (có khi vài tháng) trên các đồ chơi của trẻ em bị bệnh bạch hầu, trên áo choàng của nhân viên y tế, trong các buồng bệnh điều trị bạch hầu. Tuy nhiên, trực khuẩn gây bệnh rất nhạy cảm với các yếu tố lý hóa. Dưới ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, trực khuẩn bị chết sau vài giờ, ở nhiệt độ 58 độ C sống được 10 phút, còn trong phenol 1% hoặc cồn chỉ có thể sống được 1 phút.

Triệu chứng

Những người bị bệnh bạch hầu thường có dấu hiệu sốt nhẹ, ho, khàn tiếng, chán ăn và luôn trong tình trạng rát họng.

Thường sau 2-3 ngày sẽ xuất hiện giả mạc mặt sau hoặc hai bên thành họng, có màu trắng ngà, xám hoặc đen. Giả mạc dai, dính, dễ chảy máu.

Ngoài ra, bệnh nhân bị ho gà có thể có dấu hiệu khó thở, khó nuốt. Bệnh có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6-10 ngày. Trong trường hợp bệnh nặng không có biểu hiện sốt cao nhưng có dấu hiệu sưng to cổ, khàn tiếng, khó thở, rối loạn nhịp tim, liệt.

Nếu không được phát hiện bệnh và điều trị sớm sẽ dẫn tới nguy cơ viêm cơ tim tổn thương hệ thần kinh dẫn truyền cơ tim, tử vong do đột ngột trụy tim mạch.

Một số bệnh nhân bị viêm cơ tim và van tim, sau nhiều năm gây ra bệnh tim mãn và suy tim. Cùng với những triệu chứng trên bệnh dẫn tới thoái hóa thận, hoại tử ống thận, chảy máu lớp tủy và vỏ thượng thận.

Cách phòng bệnh

Tiêm vắc xin là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh Bạch hầu. Hiện nay trong chương trình Tiêm chủng mở rộng, tất cả trẻ em sẽ được tiêm đủ 3 mũi vắc xin phối hợp 5 trong 1 phòng bệnh bạch hầu-ho gà-uốn ván-viêm gan B-viêm phổi, màng não do vi khuẩn Hib (DPT-VGB-Hib) lúc 2,3 và 4 tháng tuổi.

Tiêm nhắc lại vắc xin bạch hầu-ho gà-uốn ván (DPT) khi trẻ đủ 18 tháng tuổi. Việc trì hoãn tiêm chủng vì bất cứ lý do gì sẽ khiến cho trẻ có nguy cơ mắc bệnh.

Cách ly bệnh nhân:

Nếu phát hiện ra người bị nhiễm Bạch hầu, cần cách ly bệnh nhân ít nhất 2 ngày sau điều trị kháng sinh thích hợp và đeo khẩu trang khi tiếp xúc. Ngoài ra cần vệ sinh phòng ở, đồ dùng cá nhân, đồ chơi bằng các dung dịch sát khuẩn.

Dịch Bệnh Bạch Hầu Trở Lại Nguy Hiểm Như Thế Nào? Nguyên Nhân

Điểm trung bình: 0/5 (0 lượt đánh giá)

Gần đây, thông tin về dịch bệnh bạch hầu trở lại đang là tin sốt trong lĩnh vực sức khỏe. Do đây là dịch bệnh có tính nguy hiểm cao, gây tử vong chỉ trong vòng 6 – 20 ngày. Virus gây bệnh có thể sống độc lập ở môi trường ngoài hàng tháng trời để lây nhiễm bệnh. Và nhiều báo động khác đang được Bộ Y Tế và các cơ quan chức năng đưa tin đến người dân trong cả nước.

Bệnh bạch hầu quay trở lại nguy hiểm như thế nào?

Theo những số liệu đáng lưu ý về bệnh bạch hầu thời kỳ chưa có vacxin vẫn còn là những cảnh báo không thể chủ quan về căn bệnh hô hấp này. Năm 1994 ở Nga đã có hơn 39.000 người mắc bạch hầu, với 1.100 người tử vong, còn ở Ukraina có hơn 3.000 người mắc bệnh với độ tuổi mắc bệnh chủ yếu là trên 15 tuổi.

Sau khi có vacxin phòng ngừa, công tác tiêm chủng có hiệu quả, ở khu vực Tây Thái Bình Dương, con số mắc bệnh bạch hầu hàng năm đã giảm rõ rệt. Những năm đầu thập kỷ 80 của thế 20, hàng năm ở đây có hơn 13.000 trường hợp bạch hầu. Đến năm 1990 giảm xuống còn 1.130 trường hợp và năm 1994 chỉ còn 614 trường hợp.

Hiện nay, dịch bệnh Bạch hầu đang xuất hiện ngay tại Việt Nam và đã có người tử vong. Do đó, cần tìm hiểu về dịch bệnh giúp phòng tránh và đối phó với dịch bệnh hiệu quả hơn.

Nguy hiểm dịch bạch hầu tại Đắk Nông

Theo báo Công An Nhân Dân, Giữa tháng 6/2020, xuất hiện 2 ổ dịch bạch hầu ở địa bàn Krông Nô và Đăk Glong thuộc tỉnh Đăk Nông. Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đăk Nông đã cách ly hơn 355 người có tiếp xúc tới các bệnh nhân. Các bệnh nhân mắc bệnh đều từ 9 đến 15 tuổi, ngoại trừ trường hợp bà nội 66 tuổi có tiếp xúc với 3 bệnh nhân sống tại Trung tâm bảo trợ xã hội Nhà May mắn ở Krông Nô.

Trong 6 bệnh nhân thì có 1 bệnh nhi 9 tuổi là Sùng Thị H. (trú tại xã Quảng Hòa, huyện Đắk GLong) có diễn biến bệnh nặng. Nên ngày 19/6 bệnh nhi đã được gia đình đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Nông trong tình trạng ho, đau họng và khó thở…

Bệnh nhi đã được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP Hồ Chí Minh điều trị Do bệnh tiến triển nặng. Trong chưa đầy 1 ngày sau, bệnh nhi đã tử vong do nguyên nhân “bạch hầu ác tính biến chứng tim”.

Tạ khu vực Tây Nguyên và miền trung, hằng năm đều xuất hiện những trường hợp mắc bệnh bạch hầu. Như năm 2019, bệnh bạch hầu tại Gia Lai và Đắk Lắk cũng có số ca mắc bạch hầu nhiều nhất cả nước và có người đã tử vong, hàng chục người phải đưa đi cách ly. Các ca nhiễm bệnh đều được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP. HCM để điều trị.

Bệnh hô hấp Covid-19 đã và đang gây ra những tổn thất nặng nề về nhiều mặt cho cả sức khỏe, kinh tế và xã hội trên toàn thế giới. Nay xuất hiện thêm dịch Bạch hầu nguy hiểm, mặc dù hàng năm đều có người nhiễm, tuy nhiên người dân không nên chủ quan. Đặc biệt là khu vực miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh khác.

Nguyên nhân gây ra bệnh bạch hầu giả mạc là gì?

Bệnh bạch hầu thanh quản là bệnh gì?

Theo Cục Y Tế Dự Phòng, bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm khuẩn dạng cấp tính có giả mạc ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản và mũi. Bệnh có thể xuất hiện ở những vùng da, các màng niêm mạc khác như ở kết mạc mắt hay bộ phận sinh dục.

Dấu hiệu nhận biết bệnh bạch hầu

Bệnh bạch hầu giả mạc hay bạch hầu thanh quản cùng để nói về 1 loại bệnh Bạch hầu. Người mắc bệnh sẽ có những triệu chứng lâm sàng như Viêm họng, viêm mũi, viêm thanh quản. Bị đau họng, họng đỏ, nuốt vào thấy đau. Da trở nên xanh, mệt mỏi, có nổi hạch ở dưới hàm và làm sưng tấy vùng cổ.

Bệnh nhân sẽ có biểu hiện lâm sàng khi bị nhiễm ngoại độc tố bạch hầu tại chỗ rất nguy hiểm là giả mạc và biểu hiện toàn thân là nhiễm độc thần kinh, gây tê liệt thần kinh sọ não, thần kinh vận động ngoại biên và thần kinh cảm giác và/ hoặc viêm cơ tim. Bệnh bạch hầu có tỷ lệ tử vong khoảng 5% – 10%. Bệnh bạch hầu rất nguy hiểm đối với trẻ em dưới 15 tuổi

Nguyên nhân gây bệnh bạch hầu thanh quản là gì?

Bệnh bạch hầu do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae thuộc họ Corynebacteriaceae. Vi khuẩn bạch hầu có 3 type là Gravis, Mitis và Intermedius. Vi khuẩn này là gram dương, hình que và hiếu khí. Vi khuẩn này tấn công chủ yếu vào vùng hầu họng và hình thành màng giả có màu trắng nên bệnh gọi là Bạch Hầu.

Đây là một bệnh vừa gây nhiễm trùng và nhiễm độc. Các tổn thương của bệnh rất nghiêm trọng, chủ yếu là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu gây ra.Thường xuất hiện vào những tháng lạnh ở vùng ôn đới. Do chủ yếu virus tấn công vào đường hô hấp nên việc lây nhiễm vi khuẩn bạch hầu cũng xảy ra dễ dàng qua đường các hạt dịch hô hấp bắn ra từ người bệnh. Bệnh có tính mùa và thường phát triển thành dịch trong thời gian khá ngắn.

Nguy hiểm hơn, vi khuẩn gây bệnh Bạch hầu có khả năng tự sống sót trong môi trường ngoài cơ thể vật chủ từ 7 ngày cho đến 6 tháng. Làm tăng nguy cơ nhiễm virus sang người khác hơn nếu trong vùng có người bị nhiễm bệnh không đảm bảo phòng chống lây nhiễm.

Có những trường hợp hiếm gặp hơn, vi khuẩn gây bệnh còn có thể nhiễm ở các vùng da hoặc bộ phận sinh dục.

Hiện nay, cách an toàn nhất để phòng ngừa Dịch bạch hầu là tiêm phòng vacxin tại các cơ sở tiêm chủng uy tín. Đặc biệt là trẻ em dưới 15 tuổi. Bên cạnh đó, cần theo dõi tình hình dịch bệnh để có sự đề phòng phù hợp nhất.

Như vậy, bài viết đã giới thiệu về mối nguy hiểm của dịch bệnh bạch hầu trở lại, tác nhân gây bệnh và cách phòng chống bệnh. Nếu bạn muốn tìm hiểu kỹ hơn về khám tổng quát phụ khoa, nam khoa, bệnh xã hội,…phương pháp điều trị, chi phí điều trị hay muốn đặt lịch khám, vui lòng gọi ngay đến Hotline0292 3736 333 hoặc làm theo hướng dẫn bên dưới để được các chuyên gia giải đáp thắc mắc một cách nhanh chóng.

Hiện nay, phòng khám đang xây dựng hệ thống Tư vấn online miễn phí nhanh chóng – đơn giản – thuận tiện, nhằm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu khám chữa bệnh với hai kênh tư vấn:

– Tư vấn qua số điện thoại:0292 3736 333

Đừng ngại chia sẻ tình trạng của bạn với các tư vấn chuyên khoa của chúng tôi, bởi mọi thắc mắc của bạn sẽ được các tư vấn giải đáp miễn phí và cho lời khuyên tốt nhất.