Top 5 # Xem Nhiều Nhất Bệnh Parkinson Theo Y Học Cổ Truyền Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Mgwbeautypageant.com

Bệnh Parkinson Theo Quan Điểm Y Học Hiện Đại Và Y Học Cổ Truyền

Bộ môn – khoa Y học cổ truyền 103 1. Đại cương 1.1. Y học hiện đại 1.1.1 Khái niệm

Bệnh parkinson (PD) là một dạng bệnh do tổn thương của hệ thần kinh ngoại tháp. Đặc trưng chủ yếu của bệnh là tăng trương lực cơ, run và giảm vận động. Hiện nay, bệnh này chưa tìm được nguyên nhân gây bệnh rõ ràng. Nếu tìm được nguyên nhân gây bệnh thì gọi là hội chứng Parkinson mắc phải (PS).

Bệnh này thường gặp ở người trên 40 tuổi, hiếm gặp ở thanh niên. Tỷ lệ mắc bệnh của nam nhiều hơn nữ.

1.1.2. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh

– Nguyên nhân gây bệnh parkinson là không rõ ràng. Hội chứng parkinson mắc phải có thể do các bệnh như: Sơ vữa động mạch não, viêm não, nhiễm độc CO, nhiễm độc Mn và sử dụng các thuốc tâm thần. Cũng có thể là hội chứng thứ phát của bệnh đột quỵ nhồi máu, ung thư não và chấn thương sọ não.

– Cơ chế bệnh sinh của bệnh parkinson chủ yếu là do sự biến đổi bất thường của hệ thống tế bào thần kinh sắc tố ở các nhân xám trung ương. Trong đó, quan trọng nhất là sự thiếu hụt hoạt chất dẫn truyền thần kinh dopamine ở phần đặc của

liềm đen và bèo nhạt. Ở liềm đen có thể nhìn thấy rõ tế bào thần kinh sắc tố bị thiếu hụt. Trên hình ảnh vi thể thấy các thể vùi bắt màu ưa acid có trong bào tương tế bào liềm đen, đó là thể Lewy ( Biểu hiện đặc trưng của bệnh parkinson chính là sự xuất hiện thể Lewy). Quá trình bệnh lý trên làm thay đổi sự cân bằng giữa dopamine và acetylcholin, hoạt tính của acetylcholin tăng lên chính là yếu tố gây ra các triệu chứng của bệnh.

1.1.3. Chẩn đoán

– Lâm sàng: biểu hiện chủ yếu của bệnh là run, cứng đơ, giảm vận động, mất vận động, rối loạn vị trí và mất cân bằng. Các triệu chứng đi kèm thường có như: rối loạn ngôn ngữ, đờ đẫn, trầm cảm, tăng tiết đờm dãi.

+ Run: run khi nghỉ, run có tần số 4 – 7Hz, thấy rõ ở ngọn chi trên. Thường là run khi nghỉ, khi làm động tác hữu ý không run, run có thể tạm mất nhưng sau đó lại tái diễn, khi ngủ hết run, xúc động run tăng.

+ Cứng đơ: rõ nhất ở các cơ chống đối với trọng lực. Cứng đơ kèm theo run, khi kiểm tra trương lực cơ sẽ có hiện tượng bánh xe răng cưa gọi là “cứng đơ dạng bánh xe răng cưa”

+ Giảm vận động: các động tác tự nhiên của cơ thể bị suy giảm và chậm chạp. Các động tác hữu ý thiếu sự tự nhiên, bước chân khó khăn, nâng chân khó, cự ly bước chân nhỏ, thành dáng đi vội vàng. Mất vẻ biểu lộ tình cảm, ít chớp, nét mặt như người đeo mặt nạ.

– Cân lâm sàng: xét nghiệm dịch não tủy, xét nghiệm huyết thanh ( T3, T4 ), điện não đồ, điện cơ đồ, chụp CT, chụp MRI…

1.1.4. Chẩn đoán giai đoạn của bệnh Parkinson

– Giai đoạn 1: có các dấu hiệu một bên cơ thể, nhưng chức năng chưa suy giảm hoặc chỉ giảm tối thiểu.

– Giai đoạn 2: có các dấu hiệu ở một bên gây suy giảm chức năng ở mức độ nào đó, nhưng không mất thăng bằng.

– Giai đoạn 3: có triệu chứng ở cả hai bên cơ thể ở tư thế không vững ( mất thăng bằng ), bệnh nhân vẫn tự chủ được trong hoạt động tuy có bị hạn chế.

– Giai đoạn 4: bị suy giảm chức năng nặng nhưng vẫn có thể đi đứng được với sự hỗ trợ một phần.

– Giai đoạn 5: bệnh nhân phải ngồi xe lăn hoặc tại giường, không tự chủ.

1.2. Y học cổ truyền 1.2.1. Khái niệm

Y học cổ truyền mô tả triệu chứng bệnh Parkinson với biểu hiện đầu hoặc tay rung lắc, run, vận động khó khăn, thuộc phạm trù chứng “chấn chiên”.

1.2.2. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh

Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do : khí huyết hư, can uất, đàm nhiệt.

2. Biện chứng luận trị 2.1. Đặc điểm biện chứng

Triệu chứng điển hình của bệnh là run, cứng đơ và giảm vận động. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do: khí huyết hư, can uất và đàm nhiệt. Ba yếu tố đó cùng tồn tại với nhau. Do đó, trong chẩn đoán và điều trị cần phải biện luận được hư chứng và thực chứng. Trong thực tiễn lâm sàng, nếu bệnh nhân có triệu chứng chủ yếu là run thì nguyên nhân do can uất là chủ yếu. Nếu bệnh nhân có triệu chứng chủ yếu là cứng đơ thì nguyên nhân do huyết hư là chủ yếu. Bệnh thường kéo dài lâu ngày nên sẽ gây ra đàm trệ và huyết ứ.

2.2. Nguyên tắc điều trị

Nguyên nhân gây bệnh parkinson là khí huyết hư, can uất, đàm nhiệt. Vì vậy, pháp điều trị chủ yếu là: khai uất dưỡng huyết, hóa đàm thông lạc, hư thực kiêm cố. Tuy vậy trong thực tiễn lâm sàng cần biện chứng rõ ràng để lựa chọn pháp điều trị cho phù hợp trên mỗi bệnh nhân.

3. Phân thể điều trị 3.1 Thể khí huyết lưỡng hư, huyết ứ phong động

– Lâm sàng: run, cứng đơ lâu ngày, dáng đi vụng về, đờ đẫn ít nói, cơ thể mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, ra mồ hôi trộm, đại tiện khó, sắc mặt tối, lưỡi to nhuận có vết răng, chất lưỡi tối nhạt hoặc có ứ ban, mạch tế nhược hoặc trì.

– Pháp điều trị: ích khí dưỡng huyết, hoạt lạc tức phong.

– Bài thuốc: Định chấn hoàn gia giảm.

Bài thuốc trên sắc uống ngày 01 thang .

Trong bài thuốc trên thì hoàng kỳ, bạch truật có tác dụng ích khí. Thục địa, đương quy có tác dụng dưỡng huyết. Đan sâm, xuyên khung có tác dụng hoạt huyết, trừ phong. Tần giao, uy linh tiên có tác dụng trừ phong thông lạc. Thiên ma, câu đằng có tác dụng bình can tức phong. Toàn yết có tác dụng trừ phong chỉ kinh ( chống run). Sinh địa có tác dụng bổ âm, thanh hỏa, thanh huyết nhiệt.

Nếu khí hư nặng gia đẳng sâm 30g. Nếu sau khi dung thuốc mà run không đỡ thì gia ngô công 04 con. Nếu có triệu chứng táo bón mà nhiệt chứng không rõ thì gia chỉ xác 06g, thăng ma 12g.

3.2. Thể can uất huyết hư, đàm nhiệt sinh phong

– Lâm sàng: run chân tay, cứng đơ, tình chí uất ức, chướng bụng, tức ngực, hoa mắt chóng mặt, đờm dãi nhiều, mặt ra nhiều mồ hôi dầu, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng hoặc trắng, mạch tế huyền hoặc mạch hoạt.

– Pháp điều trị: khai uất dưỡng huyết, hóa đàm tức phong.

– Bài thuốc: Địch đàm thang gia giảm.

Bài thuốc trên sắc uống ngày 01 thang.

Trong bài thuốc trên phục linh có tác dụng kiện tỳ, lợi thấp, tiêu đàm. Mai khôi hoa có tác dụng hành khí giải uất. Trần bì có tác dụng hành khí kiện tỳ. Đởm nam tinh, bối mẫu có tác dụng hóa đàm. Viễn chí có tác dụng an thần, tiêu đàm. Câu đằng có tác dụng bình can tức phong. Đan sâm có tác dụng hoạt huyết tiêu đàm. Cương tàm có tác dụng khu phong hóa đàm. Hậu phác có tác dụng hành khí hóa thấp. Bạch thược có tác dụng nhu can dưỡng âm. Sinh cam thảo có tác dụng trừ đàm, điều hòa bài thuốc.

Nếu nhiệt chứng nặng thì gia liên kiều 12g.

3.3. Thể can thân bất túc, huyết ứ phong động

– Lâm sàng: bệnh lâu ngày, run nhiều, bước chân chậm chạp, khó khăn, đi lại không vững, thể trạng gầy, chóng mặt ù tai, dễ cáu giận, hay quên, đại tiện táo, chất lưỡi tối, rêu lưỡi ít, tĩnh mạch dưới lưỡi giãn, mạch huyền tế hoặc tế sáp.

– Pháp điều trị: tư thận nhu can, hoạt huyết tức phong.

– Bài thuốc: thiên ma câu đằng ẩm gia giảm.

Bài thuốc trên sắc uống ngày 01 thang.

Trong bài thuốc trên thì thiên ma, câu đằng có tác dụng bình can tức phong. Sinh địa, thạch hộc có tác dụng bổ âm, sinh tân. Ích mẫu, ngưu tất, đan sâm có tác dụng hoạt huyết. Tang ký sinh, đỗ trọng, vừng đen có tác dụng tư bổ can thận, mạnh gân cốt. Bạch thược có tác dụng nhu can dưỡng huyết. Mai khôi hoa có tác dụng hành khí giải uất. Dạ giao đằng, phục thần có tác dụng an thần.

Nếu triệu chứng run nặng thì gia ngô công 04 con.

4. Các biện pháp khác

– Hào châm các huyệt: Thái xung, hợp cốc, phong trì, ngoại quan, khúc trì, dương lăng tuyền, túc tam lý, tam âm giao, nhân trung, hạ quan . Ngày 01 lần, thời gian lưu kim 15- 30 phút. Liệu trình 15- 30 ngày.

– Nhĩ châm các huyệt: Thần môn, can, thận, tam tiêu… Mỗi lần chọn 3 – 4 huyệt, ngày 01 lần, thời gian lưu kim 15- 30 phút. Liệu trình 15- 30 ngày.

5. Kết luận

Y học cổ truyền mô tả triệu chứng điển hình của bệnh là đầu hoặc tay rung, lắc, vận động khó khăn, thuộc phạm trù chứng “chấn chiên”.

Nguyên nhân của bệnh parkinson chủ yếu là do: khí huyết hư, can uất, đàm nhiệt.

Nguyên tắc điều trị của bệnh chủ yếu là khai uất dưỡng huyết, hóa đàm thông lạc, hư thực kiêm cố. Tuy vậy trong thực tiễn lâm sàng cần biện chứng rõ ràng để lựa chọn pháp điều trị cho phù hợp trên mỗi bệnh nhân.

Bệnh Basedow Theo Y Học Cổ Truyền

Bệnh basedow hay còn gọi là cường giáp, là bệnh lý do hormon tuyến giáp tăng cao làm cho cơ thể bị xáo trộn nội tiết. Biểu hiện của bệnh là hồi hộp, khó ngủ, run tay, dễ bị kích thích, hay cáu gắt, nhịp tim nhanh dẫn đến rối loạn nhịp tim, mệt nhiều, có khi ngứa ngoài da, người lúc nào cũng sợ nóng bức, ra mồ hôi nhiều,sụt cân, tiêu chảy… rất ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống.

Bệnh để lâu sẽ gây ra chứng lồi mắt, nặng hơn có khi không khép kín được mí mắt, Rối loạn giấc ngủ, rối loạn kinh nguyệt trên phục nữ hoặc các triệu chứng sẽ xuất hiện đồng thời với bệnh.

Tại Việt Nam tỷ lệ basedow khá cao từ 10% đến 39% trong số những người có bướu giáp đến khám tại bệnh viện, trong đó chủ yếu ở độ tuổi sinh đẻ từ 20 đến 40 chiếm tỷ lệ cao nhất.

Bệnh basedow rất dễ tái phát nên phải đi thăm khám thường xuyên

Bình thường hormone tuyến giáp là T3 (Tri-Iodothyronin) và T4 (Tretra-Iodothyronin) là hai hormone làm nhiệm vụ điều hòa chuyển hóa và tăng trưởng của cơ thể, chúng được kích thích sản xuất bởi TSH (Thyroid Stimulating Hormon) của tuyến yên. Khi bị bệnh basedow, cơ thể sản xuất ra 1 loại protein có tên là Thyrotropin receptor anti-body (TRAb) chống lại chính cơ thể (tự kháng thể).

Protein này gắn kết lên receptor của TSH trên tuyến giáp gây tăng tiết T3, T4 quá mức đây là chứng cường giáp.

Các phương pháp điều trị Basedow có điều trị nội khoa: thuốc kháng giáp trạng tổng hợp. Điều trị bằng ngoại khoa. Dùng Iod phóng xạ để điều trị. Kết hợp điều trị Y Học cổ truyền nhằm hỗ trợ cải thiện các triệu chứng, hạn chế tác dụng phụ và các biến chứng của các phương pháp điều trị bằng Y học hiện đại. Đặc biệt một số biến chứng của Basedow như lồi mắt, mất ngủ, rối loạn kinh nguyệt mặc dù bệnh nhân đã được điều trị bình giáp vẫn còn và ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống cử bệnh nhân. Điều trị bằng Y học cổ truyền giúp cải thiện rất nhiều các triệu chứng biến chứng của bệnh nhân.

Cường giáp xếp vào chứng ANH LỰU , NHỤC ANH, ANH bệnh, lấy biện chứng luận trị làm cơ sở và chia thành các giai đoạn:

Mới phát: chủ yếu là Can đởm kết, chữa trị nên lý khí hoá đởm, nhuyễn kiên, tán kết

Thời kỳ sau: phần âm suy, hao tổn, chữa trị nên nhu Can, tư Thận.

Chứng nhẹ: biểu hiện chủ yếu là can Khí uất kết, đàm kết sinh hoả gây nhiễu tâm phép trị chủ yếu là sơ can, thanh tâm, hoá đàm, tán kết.

Chứng nặng: Biểu hiện chủ yếu là khí uất, đàm kết, phép trị choủ yếu là dưỡng tâm, tả hoả, hoá đàm, tán kết.

Chứng nguy: biểu hiện chủ yếu là táo hoả cực thịnh làm suy kiệt khí âm, cần truyền dịch hồi sức cấp cứu.

Can khí uất trệ: ngực sườn đau tức, bụng đầy ăn ít, rìa lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch Huyền

Phép trị: sơ Can thanh nhiệt, lý khí, giải uất

Can hoả thịnh: bứt rứt, nóng nảy, hay cáu gắt, sắc mặt đỏ ửng, sợ nóng, miệng đắng, mồ hôi ra nhiều, hoa mắt chóng mặt, chân tay run, lưỡi đỏ rêu mỏng vàng, mạch huyền sác.

Trường hợp can hoả phạm vị, bệnh nhân mau đói, ăn nhiều. Phép trị: thanh can, tả hoả.

Tâm âm hư: bứt rứt khó ngủ, hồi hộp ra mồ hôi, mệt mỏi, ngắn hơi ( hụt hơi ), chất lưỡi đỏ bóng, ít rêu hoặc rêu mỏng, mạch Tế Sác.

Phép trị: dưỡng tâm, an thần, tư âm, sinh tân.

Đàm thấp Ngưng kết: tuyến giáp to, ngực đây tức, không muốn ăn, nôn, buồn nôn, tiểu lỏng. lưỡi bệu, rêu lưỡi dà,, nhợt, mạch Nhu Hoạt

Pháp điều trị: hoá đàm. Lợi thấp, nhuyễn kiên, tán kêt.

Tuỳ theo các thể và pháp điều trị có phương điều trị thích hợp dùng thuốc và không dùng thuốc., gia giảm theo từng chứng và bệnh nhân khác nhau.

Lục Quân Tử Thang Hợp Hải Tảo Ngọc Hồ thang gia giảm.: Hải tảo 30g , Hải đới 30g , Côn bố 30g, Trần bì 8g, Bán hạ 8g, Xuyên khung 8g, Đương quy 12g, Đảng sâm 12g, Bạch truật 12g, Bạch linh: 12g, Triết bối mẫu 12g, Cam thảo: 4g.

Tứ Hải Thư Uất Hoàn thêm Hương phụ, Uất kim.: Hải cáp phấn 8g, Hải đới 30g, Hải tảo 30g, Hải phiêu tiêu 20-30g, Côn bố 20-30g, Trần bì 8g, Mộc hương 12g, Hương phụ 12g, Uất kim 12g.

Côn bố, Hải tảo, Đậu nành 150-200g. Nấu chin hoặc thêm đường ăn thường xuyên.

Theo biện chứng luận trị chọn bài châm theo thể, có thể gia các huyệt tuỳ theo triệu chứng kèm theo.

Mắt lồi: thiên trụ, phong trì

Mất ngủ: đởm du, tâm du

Sốt về chiều : Đại chuỳ, lao cung

Mồ hội trộm : âm khích, hậu khê

Cơ thể gầy ốm : túc tam lý, tam âm giao.

Hồi hộp : Nội quan, thần môn

Tiểu lỏng : thiên xu, công tôn, tỳ du

Nhĩ châm : Nội tiết, Dưới vỏ não, Tuyến giáp.

Phương pháp châm : dùng hào châm châm cách nhật, 30 lần châm là một liệu trình. Gài nhĩ hoàn thì 3 ngày liên tục dặn bệnh nhân tự ấn huyệt ngày 3 lần, sau khi lấy kim, thay kim gài huyệt khác, 10 lần gài kim là 1 liệu trình.

Chữa Bệnh Trĩ Theo Y Học Cổ Truyền

I) Nguyên nhân:

Y học cổ truyền đã tổng kết các nguyên nhân của bệnh trĩ, không chỉ là do ở vùng hậu môn trực tràng gây ra mà chủ yếu là do cơ thể mất cân bằng âm dương, cộng thêm ngoại cảm, nội thương, đó là các yếu tố sau

+ Ăn uống không điều độ: Ăn quá nhiều, quá no hoặc ăn quá nhiều đồ ngọt, chất béo hoặc uống nhiều rượu; ăn nhiều thức ăn có tính kích thích như ớt, gừng, tỏi, làm cho cơ thể bị nóng, gây toát mồ hôi, khiến hậu môn bị dồn máu, đau rát, gây ra bệnh trĩ.

+ Táo bón: nhịn đại tiện lâu, đến khi đại tiện, phân khô rắn làm rách hậu môn gây chảy máu, đó là nguyên nhân gây ra bệnh trĩ.

+ Làm việc quá sức: ngồi lâu làm cho quá trình máu lưu thông không đủ, làm ruột và dạ dày bị tổn thương dẫn đến tích tụ khí huyết gây ra bệnh trĩ.

+ Mắc bệnh mạn tính: tiêu chảy, kiết lỵ kéo dài, ho lâu ngày làm khí huyết bị tổn thương, khí hư tích tụ, từ đó gây ra bệnh trĩ.

+ Bị tà khí xâm nhập: trong Kim quỹ yếu lược có ghi: Ruột non bị lạnh, đại tiện ra máu, bị nóng gây ra bệnh trĩ, khi cơ thể bị nhiễm lạnh, nóng đều có thể là nguyên nhân gây bệnh trĩ

+ Phụ nữ mang thai, kinh nguyệt không đều: phụ nữ mang thai, kinh nguyệt không đều có thể làm cho mạch máu ở tĩnh mạch không thông, từ đó gây ra bệnh trĩ. Phụ nữ khi đẻ dùng sức rặn nhiều

+ Yếu tố tình cảm: y học cổ truyền rất coi trọng đến các trạng thái tình cảm của con ngýời, do ðó mới có cách nói, vui quá có thể làm ảnh hýởng đến tim, buồn làm ảnh hýởng ðến gan. Vui, buồn thất thýờng , khí huyết xâm nhập vào ðại tràng, tạo thành cục dễ gây ra bệnh trĩ.

+ Tạng phủ suy yếu: tạng phủ suy yếu, lại bị nhiễm lạnh hoặc nóng trong, làm cho khí huyết tích tụ, tập trung ở hậu môn, từ đó dễ gây ra bệnh trĩ.

Tỳ là cơ quan có chức năng vận chuyển biến hóa thức ăn. Tỳ thống nhiếp huyết nghĩa là giúp dòng máu lưu thông. Nếu máu thoát ra ngoài mạch là tỳ yếu. Lo nghĩ hại tỳ.

Can có chức năng tàng huyết – uất ức kéo dài sẽ sinh nội nhiệt – nhiệt cũng làm máu dễ chảy ra ngoài, ăn uống các chất cay nóng cũng tăng sinh nhiệt.

Việc búi trĩ hay giang môn sa ra ngoài là do khí hư, tỳ khí hư không có khả năng nâng lên. Nhưng đã nói đến khí không thể không nói đến phế. Phế chủ xuất nhập khí. Phế khí yếu sẽ làm cho ăn uống kém như vậy lại ảnh hưởng đến tỳ khí. Cơ thể muốn khỏe mạnh, các cơ quan hoạt động điều hòa thì khí và huyết của cơ thể phải đủ và lưu thông. Khí lưu thông huyết mới lưu thông. Huyết lưu thông thì khí cũng lưu thông. Người ngồi lâu ở một tư thế, hay bị lỵ mà phải rặn nhiều sẽ làm rối loạn lưu thông khí huyết. Huyết ứ trệ, gây căng dãn mạch vùng môn. Càng ứ lâu lưu thông huyết càng kém và mạch càng dãn có thể vỡ mạch sinh chảy máu đó là trĩ xuất huyết. Phòng bệnh trĩ là luôn giúp cho khí huyết đủ và lưu thông. Công việc phải ngồi xổm nhiều, người lao động khiêng vác nặng mệt nhọc hay thời điểm sinh đẻ, phụ nữ phải rặn nhiều đó là điều kiện thuận lợi để trĩ hình thành hay đã bị trĩ sẽ nặng thêm.

III) Điều Trị bệnh trĩ 1. Theo cổ phương

Các giai đoạn trĩ nội và trĩ ngoại được phân chia như sau.

Trĩ nội: chia làm 4 thời kỳ:

1. Búi trĩ chưa ra ngoài, đại tiện ra máu tươi, có trường hợp chảy máu nhiều gây thiếu máu.

2. Khi đại tiện búi tri lòi ra, sau đó trĩ lại tự co được.

3. Khi đai tiện trĩ lòi ra, xong trĩ không tự co lên được, lấy tay ấn đám trĩ co lên.

4. Trĩ thường xuyên ra ngoài, đẩy tay cũng không vào, búi trĩ ngoằn nghèo.

Trĩ ngoại: chia làm 4 thời kì

1. Trĩ lòi ra ngoài.

2. Trĩ lòi ra ngoài với các búi tĩnh mạch ngoằn nghèo.

3. Tri bị tắc gây đau, chảy máu.

4. Trĩ bị viêm, nhiễm trùng ngứa và đau.

Phương pháp chữa: bệnh trĩ có hai loại: dùng thuốc uống trong để chống chảy máu, chống nhiễm trùng, làm nhỏ búi trĩ dùng thuốc, các thủ thuật ngoại khoa để gây búi trĩ hoại tử, rụng và cắt các búi tri.

CHỮA TRĨ BẰNG PHƯƠNG PHÁP BẢO TỔN

Áp dụng chữa bệnh trĩ; trĩ nội thời kỳ 1 và 2 (thời kỳ 3 và 4 ít kết quả có xuất huyết trĩ ngoại thời kì 3 có viêm tắc tĩnh mạch và bội nhiễm; trĩ ở người già và phụ nữ sinh đẻ nhiều lần).

+ Trĩ nội xuất huyết hay thể huyết ứ

Triệu chứng: đi ngoài xong máu ra từng giọt, đau, táo bón.

Phương pháp chữa: lương huyết chỉ huyết, hoạt huyết, khứ ứ.

Bài thuốc:

Bài 1 :

Hoa hoè sao đen 16g

Kinh giới sao đen 16g

Cỏ nhọ nhồi sao 16g

Bài 2: Hoạt huyết địa hoàng thang gia giảm:

Sinh địa 20g

Địa du 12g

Đương quy 12g

Hoa hoè 12g

Táo bón thêm Hạt vừng 2g, Đại hoàng

Bài 3: Tứ vật đào hồng gia giảm:

Sinh địa 12g

Bạch thược 12g

Đương quy 8g

Xuyên khung 12g

Hồng hoa 8g

Châm cứu:

Trường cường, Thứ liêu, Tiểu trường du, Đại trường du, Túc tam lý, Tam âm giao, Thừa sơn, Hợp cốc.

+ Trĩ ngoại bị bội nhiễm hay thể thấp nhiệt

Triệu chứng: vùng hậu môn sưng đỏ, trĩ bị sưng to, đau, ngồi đứng không yên, táo, nước tiểu đỏ.

Phương pháp chữa: thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết chỉ thống.

Bài thuốc:

Hoàng đằng 12g Chi tử sao đen 12g

Rấp cá 16g Chỉ xác 8g

Kim ngân 16g Kinh giới 12g

Hoa hoè 12g

Bài 2: Hoè hoa tán gia vị:

Hoa hoè 12g Kim ngân hoa 16g

Trắc bá diệp 12g Sinh địa 16g

Kinh giới sao đen 16g Địa du 12g

Chỉ xác 8g Chi tử sao đen 12g

Xích thược 8g Cam thảo 4g

Bài 3: Chỉ thống thang gia giảm:

Hoàng bá 12g Đương quy 8g

Hoàng liên 12g Trạch tả 12g

Đào nhân 8g Sinh địa 16g

Xích thược 12g Đại hoàng 6g

Châm cứu:

Châm các huyệt như trên, dùng tả pháp.

+ Trĩ lâu ngày gây thiếu máu, trĩ ở người già Thể khí huyết đều hư.

Triệu chứng: đại tiện ra máu lâu ngày, hoa mắt ù tai, sắc mặt trắng nhợt, rêu lưỡi trắng mong, mạch trầm tế. Người mệt mỏi, đoản hơi, tự ra mồ hôi,

Phương pháp chữa: bổ khí huyết, thăng đề, chỉ huyết.

Bài thuốc 1:

Bạch truật 12g Kê huyết đằng 12g

Đảng sâm 16g Hoa hoè sao đen 8g

Hoài sơn 16g Huyết dư 6g

Biển đậu 12g Kinh giới sao đen 12g

Hà thủ ô 12g

B2: Tứ vật thang gia giảm (nếu huyếthư)

Thục dịa 12g Địa du 12g

Xuyên quy 12g A giao 8g

Xuyên khung 8g Hoàng kỳ 12g

Bạch thược 12g Cam thảo 4g

B3: Bổ trung ích khí thang gia giảm

Hoàng kỳ 12g Sài hổ 12g

Đảng sâm 16g Thăng ma 8g

Dương quy 8g Địa du sao đen 8g

Bạch truật 12g Hoa hoè sao đen 8g

Trần bì 6g Kinh giới sao đen 12g

Cam thảo 4g

Châm cứu:

Cứu các huyết: Bách hội, Tỳ du, Vị du, Cao hoang, Cách du, Quan nguyên, Khí hải.

Bệnh Án Viêm Quanh Khớp Vai Theo Y Học Cổ Truyền

Viêm quanh khớp vai là căn bệnh nói chung chỉ tất cả các trường hợp khớp vai đau và hạn chế sự vận động. Theo y học hiện đại thì bệnh thuộc nhóm bệnh thấp ngoài khớp, còn theo y học cổ truyền thì bệnh viêm quanh khớp vai thuộc chứng kiên tý với 3 thể là kiên thống, kiên ngưng và hậu kiên phong.

Nguyên nhân bệnh viêm quanh khớp vai

Theo y học cổ truyền thì viêm quanh khớp vai thuộc chứng kiên tý, mà chứng này thuộc phạm vi chứng tý. Do vậy nguyên nhân cũng do phong, hàn, thấp kết hợp với nhau dẫn đến sự bế tắc kinh lạc.

Các tà khí bên trong làm tắc đường lưu thông khí huyết, khí huyết không thể hoặc không đủ nuôi dưỡng cân cơ gây nên bệnh viêm quanh khớp vai.

Triệu chứng bệnh án viêm quanh khớp vai theo y học cổ truyền cũng như y học hiện đại, hiện tượng chung chính là cảm giác đau đi kèm sự vận động bị hạn chế. Trong đó, tùy theo từng thể mà mỗi biểu hiện bệnh có ít nhiều sự khác nhau.

Đối với thể kiên thống: Triệu chứng của bệnh chính là những cơn đau xung quanh khớp vai; cơn đau làm hạn chế một vài vận động như chả đầu hay gãi lưng. Cơn đau tăng nhanh khi thời tiết chuyển lạnh hoặc độ ẩm tăng cao. Mặc dù khớp vai đau nhưng không xuất hiện hiện tượng sưng, đỏ, cơ không teo.

Đối với thể kiên ngưng: Đối với thể này thì triệu chứng là đau ít hoặc không đau, tuy nhiên các vận động lại gần như bị hạn chế; đi kèm với đó là hiện tượng khớp bị đông cứng lại; khi bệnh kéo dài lâu ngày thì các cơ xung quanh khớp sẽ bị teo lại.

Đối với thể hậu kiên phong: Triệu chứng của thể là khớp vai đau, vận động hạn chế, bàn tay phù có khí lan lên cẳng tay, da bàn tay có màu đỏ tía hoặc tím, da lạnh. Không chỉ là khớp vai đau mà toàn bộ bàn tay đều đau, đau cả ngày lẫn đêm, cơ bàn tay teo, cơ lực giảm, móng tay giòn, dễ gãy.

Cách chữa bệnh viêm quanh khớp vai theo y học cổ truyền

Thuốc Đông y: Để biết về bài thuốc đông y chữa bệnh viêm quanh khớp vai người đọc tham khảo tại bài viết “Viêm quanh khớp vai và cách điều trị bằng đông y“. Có 3 bài thuốc dành riêng để điều trị cho 3 thể của viêm quanh khớp vai.

Xoa bóp, bấm huyệt: Xoa bóp, bấm huyệt kiên ngung, trung phủ, nhu du. Ngoài ra, nếu đay lan ở khớp vai thì bấm thêm huyệt kiên tỉnh hoặc cự cốt. Nếu đau lan ra phía sau xương bả vai thì bấm thêm huyệt kiên tông. Còn nếu đau lan xuống cánh tay thì bấm huyệt tý nhu.

Trong trường hợp người bệnh không biết nguyên nhân gây bệnh, không am hiểu các thủ thuật đông y thì người bệnh nên đến ngay phòng khám y học cổ truyền để tham khám và điều trị bệnh hiệu quả.