Top 11 # Xem Nhiều Nhất Bệnh Sởi Kiêng Ăn Những Gì Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Mgwbeautypageant.com

Bị Bệnh Sởi Nên Ăn Gì, Kiêng Gì?

Sởi là một bệnh truyền nhiễm do virus gây nên, dễ bùng phát thành dịch. Người bệnh cần có chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý để nhanh chóng khỏi bệnh và hạn chế tối đa các biến chứng. Vậy người bị bệnh sởi kiêng gì?

1. Chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt chung

Dinh dưỡng

Hệ miễn dịch suy giảm, sức đề kháng kém, suy dinh dưỡng là điều kiện thuận lợi để các virus, vi khuẩn gây bệnh xâm nhập và tấn công cơ thể, trong đó có virus sởi. Ở người có chế độ dinh dưỡng không đảm bảo, khi mắc sởi, bệnh có dấu hiệu tiến triển nặng hơn so với nhóm người được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ.

Người bệnh khi đã mắc sởi, thường có dấu hiệu buồn nôn, chán ăn, rối loạn tiêu hóa, viêm loét miệng gây khó ăn. Những biểu hiện này càng làm bệnh nhân gặp khó khăn trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể và làm cho tình trạng suy dinh dưỡng càng thêm trầm trọng, làm cho tình trạng bệnh đã nặng càng nặng thêm. Do đó, để đảm bảo sức khỏe, người bệnh cần đảm bảo bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cơ thể.

PGS Nguyễn Danh Tuyên- Viện trưởng Viện Dinh dưỡng đã đưa ra một số lời khuyên về chế độ dinh dưỡng cho người bệnh sởi, cụ thể như sau:

Đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm: bột đường, đạm, béo, vitamin và khoáng chất

Thực phẩm đa dạng: 15 – 20 loại thực phẩm/ngày

Đối với trẻ em đang kỳ bú mẹ: trẻ tăng bú sữa, bú sữa nhiều lần hơn, người mẹ cũng cần ăn bổ sung để cấp đủ chất dinh dưỡng hơn để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.

Với các bệnh nhân đã có biến chứng hay không thể ăn được, cần truyền dinh dưỡng và tuân theo sự hướng dẫn của chuyên gia y tế.

Kể cả khi đã khỏi bệnh, vẫn đảm bảo cung cấp lượng dinh dưỡng nhiều hơn bình thường để bổ sung đủ dinh dưỡng cho bệnh nhân, bù đắp lượng dinh dưỡng mất đi trong quá trình mang bệnh.

Sinh hoạt chung

Bên cạnh chế độ dinh dưỡng, về sinh hoạt, người mắc bệnh sởi kiêng những gì? Cụ thể:

Cách ly, tránh nơi đông người để hạn chế lây lan dịch bệnh. Khi tiếp xúc với bệnh nhân nên đeo khẩu trang để tránh lây nhiễm.

Nằm nơi thông thoáng, sạch sẽ, sáng sủa.

Vệ sinh thân thể sạch sẽ. Việc hạn chế vệ sinh có thể càng làm tăng thêm nguy cơ viêm nhiễm da, làm giảm khả năng nhận biết sự xuất hiện của các biến chứng như viêm loét giác mạc, bội nhiễm da,…

Uống đủ nước. Nếu người bệnh có các biểu hiện nôn, sốt, tiêu chảy, cần uống bổ sung nước, orezol để bù nước và điện giải. Có thể sử dụng nước ép hoa quả để bổ sung đồng thời nước và dinh dưỡng.

2. Người bị sởi ăn gì?

Giai đoạn toàn phát sởi

Theo “Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh sởi” do Bộ Y tế ban hành có chỉ rõ, phát hiện mắc bệnh sởi cần được uống ngay vitamin A theo liều sau:

Trẻ < 6 tháng: uống 50.000 đơn vị/ ngày x 2 ngày liên tiếp

Trẻ 6 -12 tháng: uống 100.000 đơn vị/ ngày x 2 ngày liên tiếp

Trường hợp có biểu hiện thiếu vitamin A: lặp lại liều trên sau 4-6 tuần. ”

Việc bổ sung vitamin A giúp hạn chế các biến chứng do sởi gây ra, nhất là các biến chứng về mắt, chống mù lòa. Cũng theo nhiều nghiên cứu chứng minh, bổ sung đầy đủ vitamin A làm giảm 50% nguy cơ tử vong do mắc sởi.

Ở những bệnh nhân nhiễm virus sởi, lượng vitamin A dự trữ trong cơ thể (chủ yếu ở gan) rất thấp, trong khi vitamin A đóng vai trò bảo toàn tính toàn vẹn của tế bào biểu mô, tăng cường khả năng đề kháng và miễn dịch. Nồng độ vitamin A trong cơ thể thấp tương quan với nồng độ kháng thể đặc hiệu kháng sởi thấp hơn và làm tăng nguy cơ mắc sởi. Do vậy, để phòng cũng như tăng hiệu quả điều trị sởi, bổ sung vitamin A là thực sự cần thiết.

Bổ sung vitamin A từ chế độ ăn từ các loại thực phẩm:

Có nguồn gốc động vật: như gan, lòng đỏ trứng,…

Có nguồn gốc thực vật: các loại rau củ quả có màu vàng, đỏ, như cà rốt, cà chua, bí đỏ, cam, xoài, đu đủ, dưa hấu… C ác loại rau sẫm màu như: rau cải xanh, rau muống, rau ngót, rau giền, rau đay, rau mồng tơi, súp lơ xanh…

Kẽm giúp nâng cao hệ miễn dịch của cơ thể, làm mau lành vết thương, hạn chế sự tấn công của vi khuẩn, duy trì hoạt động hiệu quả của các hệ cơ quan khác. Nếu thiếu kẽm, chức năng miễn dịch của cơ thể bị suy giảm, tạo điều kiện cho vi khuẩn, virus xâm nhiễm và gây bệnh, trong đó có virus sởi.

Bên cạnh bổ sung kẽm qua các chế phẩm dược dụng, có thể bổ sung kẽm hằng ngày qua các loại thức ăn như gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, tôm đồng, lươn, hàu, sò, đậu xanh nảy mầm , các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, lạc…)

Vitamin C giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, chống dị ứng, giúp cơ thể tăng cường khả năng chống tại sự xâm nhiễm, tấn công của các yếu tố gây bệnh, giúp người bệnh mau chóng hồi phục, có nhiều trong các loại thực phẩm như:

Giai đoạn này, bệnh nhân có sốt cao, có thể kèm theo vã mồ hôi, nôn, gây mất nước, vì vậy, bên cạnh bổ sung dinh dưỡng, cần cung cấp đủ nước và điện giải bằng cách cho uống orezol hay dùng các loại nước ép hoa quả cho bệnh nhân.

Giai đoạn có biến chứng

Các biến chứng của sởi thường gặp như nhiễm khuẩn, bội nhiễm, viêm não, suy hô hấp…Trong trường hợp này cần đưa đến cơ sở y tế để được chăm sóc và điều trị hiệu quả. Tiếp tục bổ sung các chế độ dinh dưỡng như thời kì toàn phát, bù nước, điện giải. Nếu bận nhân không thể ăn uống thì có thể truyền dịch để đảm bảo dinh dưỡng.

Giai đoạn bệnh lui

Khi bệnh nhân dần khỏi bệnh, các vết ban dần mất đi, vẫn đảm bảo chế độ ăn như thời kỳ toàn phát, nhưng tăng thêm lượng thức ăn trong ít nhất 2 tuần để cố gắng bù đắp sớm lượng dinh dưỡng bệnh nhân mất đi trong quá trình mang bệnh, giúp đưa bệnh nhân sớm trở về trạng thái bình thường.

3. Người bị sởi kiêng gì?

Bên cạnh việc bổ sung đủ các nhóm chất dinh dưỡng, người mắc bệnh sởi cũng cần kiêng và tránh ăn các loại thực phẩm sau:

Các thức ăn có quá nhiều dầu mỡ, chiên rán, không đảm bảo vệ sinh, các loại thức ăn khó tiêu, dễ gây kích ứng tiêu hóa.

Người mắc sởi ăn uống kém, cũng như khả năng hấp thu dinh dưỡng không cao, nếu ăn các thực phẩm khó tiêu sẽ càng làm việc bổ sung dinh dưỡng trở nên chậm chạm, còn các loại thức ăn không đảm bảo vệ sinh lại làm tăng nhiễm khuẩn đường ruột, làm nặng thêm các triệu chứng tiêu chảy, mất nước của người bệnh.

Các loại gia vị cay, nóng như tương ớt, tiêu, hành, tỏi, quế, cà ri…

Bệnh nhân sởi với các vết loét ở niêm mạc miệng khi ăn các thực phẩm trên sẽ gặp phải cảm giác đau xót, khó chịu và việc ăn nhiều thực phẩm cay nóng cũng làm các vết loét lâu lành hơn.

Các loại thức ăn trước đây bản thân người bệnh đã có tiền sử dị ứng.

Nếu ăn phải những thức ăn đã từng gây dị ứng có thể khiến tình trạng phát ban của người mắc sởi nặng thêm, hoặc cũng có thể làm mờ các dấu hiệu của bệnh sởi, khiến bệnh nhân cho răng bản thân bị dị ứng thông thường, không nhận ra tình trạng bệnh dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng hơn.

Các loại thực phẩm chua, tanh

các thực phẩm này làm nặng thêm dấu hiệu rối loạn tiêu hóa ở bệnh nhân sởi.

Bị Mắc Bệnh Sởi Phải Kiêng Những Gì?

Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính đường hô hấp, rất dễ lây, thường gặp ở trẻ em và là bệnh lành tính, nếu thực hiện đúng phương pháp thì việc chữa khỏi sởi là rất cao.

Tuy nhiên, nếu không chăm sóc đúng cách, những biến chứng của bệnh sởi rất nghiêm trọng, thậm chí khiến trẻ bị tử vong.

Sởi sau khi phát màu đỏ ánh thì kiêng gió, kiêng đồ sống lạnh, không nên cho bệnh nhân ăn mì, miến… nếu phạm phải điều cấm kị trên, ngoài da bị đóng kín, độc khí ủng trệ lại làm cho toàn thân xanh tái mà độc lại công vào trong sinh phiền nóng, vật vã, đau bụng, khí suyễn, bực tức, khó chịu. Độc muốn ra mà không được, nguy cấp đến ngay.

Các triệu chứng của bệnh sởi :

Phát sốt: Sởi mà không sốt thì không phát ra được. Khi mụn sởi muốn phát, khắp cơ thể phát sốt hoặc phiền nóng vật vã hoặc đầu choáng váng hoặc thân mình co giật. Khi sởi đã mọc ra sẽ hết sốt, các chứng đều hết đó là bệnh nhẹ.

Nếu hạt sởi mọc ra mà sốt cao không giảm, đó là độc thịnh. Khi đó, nên dùng bài thuốc Đại thanh thang để giải độc, gồm: Huyền sâm 8g, Thạch cao 12g, Tri mẫu 4g, Sinh địa 8g, Mộc thông 6g, Thanh đại 8g, Địa cốt bì 4g, Kinh giới tuệ 4g, Cam thảo 4g.

Ho suyễn: Phát sởi phần nhiều có ho, đó là tà độc mượn ho mà tán ra. Cho nên, trong khoảng 1 tuần mà vẫn còn ho là tốt, đừng thấy ho nhiều rồi chữa ho. Sởi là bệnh thuộc phế với tỳ vị, phế bị hỏa tà thì ho nhiều, ho nhiều thì đẩy tà ra nhanh.

Thổ tả: Sởi mới mọc phát sốt, nôn mửa, ỉa chảy đều là nhiệt chứng, chớ cho là hàn; đó là tà bức bách ở trong. Nếu hỏa tả ở thượng tiêu thì phần nhiều sinh nôn mửa (thổ), ở hạ tiêu thì phần nhiều sinh ỉa chảy (tả), ở trung tiêu thì vừa nôn mửa vừa ỉa chảy.

Nếu vừa nôn mửa, vừa ỉa chảy thì sử dụng bài thuốc Hoàng cẩm thang gia bán hạ, sinh khương. Bài thuốc Hoàng cẩm thang: Hoàng cầm 8g, Bạch thược 8g, Cam thảo 4g, Đại táo 2 quả.

Sởi mới phát rất kiêng tiết tả, nhưng có trường hợp từ đầu đến cuối đi tiết tả mà vẫn không có vấn đề gì, đó là bẩm khí có mạnh yếu khác nhau. Nều vì tả mà ho bớt rồi biến ra suyễn là nguy hiểm.

Sởi mà sinh kiết lỵ, ngày đêm đi 3-5 lần rồi giảm 2-3 lần hoặc ho nhiều dần lên, mạch dần dân nổi lên, mũi chảy ra nước trong thì là sống.

Nếu lỵ biến ra màu tối đen hoặc như nước nhà dột hoặc màu rau xanh, giang môn cứ tuột ra như cái ống, suyễn thở, quá trưa gò má đỏ là nguy hiểm, không chữa được.

Đau họng: Khi mắc bệnh sởi mà thấy đau họng là hiện tượng thường thấy, đó là hỏa độc xông lên mà gây ra, đây không phải như chứng hầu tý, ung thũng có ứ huyết. Sởi mà sinh bệnh ở họng là vì họng khô mà đau.

Đau bụng: Sởi mới phát từ ngày 1 đến ngày thứ 6, trong khoảng ấy hay có chứng đau bụng, đây là hỏa uất ở đại tràng, chớ nhận nhầm thượng thực mà sử dụng thuốc tiêu đạo hoặc dùng tay xoa nắn đều không tốt, chỉ giải được độc sởi là đau bụng tự khỏi.

Lưu ý vê ăn uống khi bị bệnh sởi

Bên cạnh những điều cấm kỵ cần lưu ý trong bệnh sởi thì việc ăn nuống trong bệnh sởi cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Nếu không chú ý, giữ gìn trong ăn uống đối với bệnh nhân sởi thì sau này khỏi sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh.

Sởi mọc ra phần nhiều từ 5-6 ngày không ăn uống, đó là vì bị tà khí xâm hại, không ăn không ngại gì, không cần chú ý vào đó mà chỉ cần chữa cho sởi mọc ra hết, độc khí tan dần sẽ tính đến chuyện ăn uống.

Chúng ta không nên cho bệnh nhân ăn mì, miến, chỉ cho uống nước cháo ít, đợi khi hết sốt rồi dần dần sẽ cho ăn thêm, ăn ít và ăn làm nhiều lần, nếu vội cho ăn thì động đến vị hỏa, bệnh sẽ bùng phát trở lại.

Người bị bệnh sởi bất kỳ là lớn hay bé, từ khi bị bệnh đến khi sởi mọc thích uống nước lạnh thì cho uống không nên kiêng, cần uống nhiều lần, độc khí theo đó mà giải. Sởi mọc mà khát nước đều là do hỏa tà, phế vị bị khô, vì tâm hỏa bốc mạnh nên mới sốt và khát…

Cách chăm sóc bệnh nhân khi bị sởi:

PGS, TS Vũ Nam cho biết: Việc chăm sóc tốt bệnh nhân bị bệnh sởi có thể giảm bớt hoặc ngăn chặn sự phát sinh biến chứng của bệnh, cụ thể:

– Cho trẻ nằm nghỉ ngơi

– Phòng nằm ấm áp, không mặc áo quá dày

– Phòng thoáng, tránh gió lạnh và sáng quá

– Phòng không khô ráo quá

– Miệng, mũi, mắt của trẻ cần lau rửa luôn

– Chú ý cho người bệnh uống nước

– Cho ăn lỏng và cháo đặc; trường hợp trẻ ỉa lỏng cần giảm thức ăn: sữa, hoa quả, dầu mỡ, cay the, tanh, nếu không sẽ làm cho sởi khó mọc ra hết được.

Bs Nam nhấn mạnh: Khi sởi lặn, kiêng ăn: tôm, cua, măng tươi, khoai sọ và thức ăn hay động phong, để tránh sinh chứng chẩn lại (tức lở ngứa ngoài da)

Bệnh Gút Kiêng Ăn Những Gì?

Bệnh gút diễn biến ra sao?

Người bị rối loạn chuyển hóa axit uric do dư thừa đạm sẽ khiến cho hàm lượng axit uric trong máu tăng cao. Khi lượng axit uric tăng đến một ngưỡng nhất định thì acid uric sẽ kết tủa thành muối urat có dạng tinh thể rắn hình kim, sắc nhọn, gây đau đớn cho bệnh nhân. Muối urat dễ kết tủa tại các khớp, những vị trí này sẽ xảy ra những cơn đau dữ dội. Các khớp của bệnh nhân có dấu hiệu sưng, nóng, đỏ.

Những điều kiện thuận lợi như nhiệt độ, lượng đạm hấp thụ vào cơ thể,…có thể thúc đẩy axit uric kết tủa thành muối urat nhanh hơn.

Nếu xét nghiệm thấy axit uric trong máu vượt ngưỡng bình thường nhưng bệnh nhân chưa xảy ra cơn đau, đây là giai đoạn tăng axit uric máu. Người bệnh cần hết sức cẩn thận.

Có thể nói, gút là căn bệnh đau đớn nhất trong các bệnh về xương khớp. Can thiệp sớm sẽ giúp cho tình trạng bệnh ít nguy hiểm hơn.

Người bệnh gút không nên ăn gì? Bệnh gút là căn bệnh xảy ra do chuyển hóa chất đạm. Chính vì thế hạn chế chất đạm đưa vào cơ thể giúp giảm ảnh hưởng của bệnh.

Bệnh nhân cần kiêng tuyệt đối các thực phẩm giàu đạm có gốc purine. Những thực phẩm sau cần tuyệt đối tránh.

Các loại hải sản.

Những loại thịt đỏ: trâu, bò, ngựa, dê…

Nội tạng động vật các loại: lòng, tim, gan, thận, óc, lưỡi,…

Trứng gia cầm cũng như các loại trứng đang phát triển thành phôi trứng vịt lộn, trứng cút lộn,…

Tránh những thực phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh: măng tre, măng trúc, măng tây, nấm, giá, bạc hà… Những thực phẩm này sẽ làm gia tăng tốc độ tổng hợp axit uric trong cơ thể khiến cho lượng axit uric tăng cao.

Thực phẩm nhiều chất béo như : mỡ, da động vật, thức ăn chiên, quay. Tránh các thực phẩm như: mì gói, thực phẩm đóng hộp, thức ăn nhanh.

Bệnh nhân cũng cần tránh thói quen ăn khuya để gan được nghỉ ngơi, tránh rối loạn quá trình chuyển hóa axit uric.

Để bổ sung đạm thiếu hụt, bệnh nhân gút có thể bổ sung các thực phẩm sau nhưng với lượng thấp và phải tuân thủ chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Giảm đạm động vật nói chung: thịt heo, thịt gà, thịt vịt. Cá và các loại thủy sản: lươn, cua, ốc, ếch…cũng nên ăn ít.

Dùng các loại đậu sau với lượng ít: đậu Hà Lan, đậu trắng, đậu xanh…

Giảm cá sản phẩm từ đậu nành: tàu hủ, sữa đậu nành,…

Các thức uống bệnh nhân gút nên ngừng sử dụng

Thức uống có gaz, thức uống nhiều đường. Các thức uống này dễ làm tăng nguy cơ béo phì khiến bệnh gút nặng hơn.

Thức uống có tính toan như: nước cam, chanh, nước trái cây giàu vitamin C vì dễ gây kết tủa muối urat ở thận.

Bệnh Sởi Nên Ăn Gì ?

Bệnh sởi tiến triển nặng ở trẻ nhỏ có tình trạng dinh dưỡng kém, suy dinh dưỡng hoặc có hệ thống miễn dịch suy giảm. Vậy khi bị sởi nên ăn gì?

Chăm sóc dinh dưỡng là vô cùng quan trọng trong dự phòng và hỗ trợ điều trị bệnh sởi để giúp cơ thể tăng sức đề kháng chống lại tác nhân gây bệnh, giảm nguy cơ mắc các biến chứng hay giảm nhẹ biến chứng khi đã mắc. Trẻ suy dinh dưỡng thường dễ bị mắc sởi và bị biến chứng nặng.

Ngược lại, trẻ bị mắc sởi lại dễ bị suy dinh dưỡng, thậm chí suy dinh dưỡng nặng. Do đó, trong quá trình điều trị bệnh sởi, nếu trẻ bị suy dinh dưỡng nặng cần được áp dụng chế độ điều trị suy dinh dưỡng.

Trẻ bị sởi thường chán ăn, bỏ ăn hay từ chối ăn do bị viêm loét ở miệng, do tình trạng nhiễm trùng.

Nôn và tiêu chảy không chỉ làm tăng nhu cầu một số chất dinh dưỡng mà còn tăng đào thải và giảm hấp thu chất dinh dưỡng.

Bổ sung vitamin A:

Bệnh sởi tiến triển nặng ở trẻ nhỏ có tình trạng dinh dưỡng kém, đặc biệt là thiếu vitamin A, suy dinh dưỡng hoặc có hệ thống miễn dịch suy giảm.

Đặc biệt, bệnh sởi làm tăng nhu cầu vitamin A của cơ thể, dẫn đến thiếu vitamin này, kể cả những trẻ trước đó được nuôi dưỡng tốt và không thiếu vitamin A vẫn có thể gây biến chứng viêm loét giác mạc, thậm chí gây mù lòa.

Phác đồ điều trị bệnh sởi của Bộ Y tế chỉ rõ trẻ phát hiện mắc bệnh sởi cần được uống ngay vitamin A theo liều sau: Trẻ dưới 6 tháng: uống 50.000 đơn vị/ngày x 2 ngày liên tiếp; trẻ 6-12 tháng: uống 100.000 đơn vị/ngày x 2 ngày liên tiếp; trẻ trên 12 tháng và người lớn (trừ phụ nữ đang mang thai): uống 200.000 đơn vị/ngày x 2 ngày liên tiếp.

Trường hợp có biểu hiện thiếu vitamin A: lặp lại liều trên sau 4-6 tuần.

Việc bổ sung này giúp dự trữ vitamin A trong thời gian mắc bệnh sởi, kể cả ở trẻ được nuôi dưỡng tốt và có thể giúp bảo vệ mắt, chống mù lòa.

Bổ sung vitamin A đã được một số nghiên cứu chứng minh làm giảm 50% trường hợp tử vong do bệnh sởi. Do đó, bắt buộc tất cả trẻ em mắc sởi đều phải được uống vitamin A theo phác đồ của Bộ Y tế.

Sử dụng nguồn thực phẩm giàu vitamin A trong các bữa ăn: Thức ăn có nguồn gốc động vật có nhiều vitamin A hay retinol tốt nhất, hầu hết ở dạng retinyl-ester.

Vì gan là nơi dự trữ vitamin A, nên gan có thành phần retinol cao nhất, ngoài ra chất béo từ thịt và lòng đỏ trứng cũng chứa một lượng vitamin A đáng kể.

Các thức ăn nguồn gốc thực vật có nhiều tiền vitamin A (Beta-carotene) như các loại củ quả có màu vàng/đỏ. Các loại rau màu xanh sẫm như rau ngót, rau giền, rau cải xanh, rau muống, rau đay, rau mồng tơi…, dầu cọ và các loại dầu ăn khác.

Theo các nghiên cứu gần đây, khi vào cơ thể tiền vitamin A sẽ được chuyển thành vitamin A (theo tỷ lệ 12:1 đối với hoa quả chín và 22-24: 1 đối với rau xanh). Vitamin A tan trong chất béo nên chế độ ăn cần có đủ dầu ăn/mỡ để giúp hấp thu và chuyển tiền vitamin A sang dạng vitamin A.

Bữa ăn cần có các thực phẩm giàu vitamin C: Bữa ăn cần có các thực phẩm giàu vitamin C nhằm chống lại dị ứng, tăng chức năng miễn dịch. Vitamin C có nhiều trong các loại quả chín như cam, bưởi, chuối, xoài, dưa hấu… và các loại rau như rau muống, ngót, dền, đay, mồng tơi. Khi trẻ bị bệnh, nên cho uống nước quả chín (1-2 cốc/ngày) để cung cấp đủ lượng vitamin C giúp nâng cao miễn dịch.

Các loại quả khác giàu vitamin C giúp nâng cao sức đề kháng và cung cấp nước cho trẻ như bưởi, táo, lê… cũng rất tốt.

Vitamin C có chức năng chống lại dị ứng, làm tăng chức năng miễn dịch. Vitamin C có nhiều trong các loại quả chín như: Cam, bưởi, chuối, xoài, dưa hấu… Vitamin C có nhiều trong các loại rau như đay, mồng tơi, rau giền, rau muống.

Khi trẻ bị bệnh nên cho trẻ uống nước quả chín (từ 1-2 cốc/ngày) để cung cấp đủ lượng vitamin C giúp nâng cao miễn dịch.

Lựa chọn các thực phẩm giàu kẽm cho bữa ăn:

Ngoài việc lựa chọn và bổ sung thực phẩm giàu Vitamin A, cần lựa chọn các thực phẩm giàu kẽm cho bữa ăn.

Với trẻ nhũ nhi, để có đủ kẽm, nên cố gắng cho bú sữa mẹ vì kẽm trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn nhiều so với sữa bò.

Kẽm có vai trò quan trọng, cần cho phát triển và duy trì hoạt động hiệu quả của hệ thống miễn dịch, cần thiết cho việc bảo vệ cơ thể trước bệnh tật, làm vết thương mau lành.

Thiếu kẽm sẽ làm tổn thương chức năng miễn dịch, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm virút từ đó làm giảm tăng trưởng, phát triển của trẻ, làm tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ.

Cháo hàu giàu kẽm cho bé bị sởi.Nâng cao miễn dịch cho bệnh nhân sởi

Cần cho trẻ dùng đủ các thức ăn giàu đạm, đặc biệt là thực phẩm giàu đạm có giá trị sinh học cao như thịt, cá (chép, quả, ba sa, bông lau, hồi, trích…), trứng, sữa, hải sản, đồng thời cũng là nguồn cung cấp kẽm và sắt giúp tăng cường hệ miễn dịch và sức đề kháng cho trẻ.

Thực phẩm có nhiều kẽm là đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, lạc…), đậu xanh nảy mầm

Trong trường hợp trẻ bị biến chứng tiêu chảy hoặc viêm phổi, cần bổ sung kẽm theo hướng dẫn của y tế bằng đường uống cho trẻ.

Thức ăn nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, lạc…), đậu xanh nảy mầm cũng nhiều kẽm và dễ hấp thu.

Với trẻ nhũ nhi, để có đủ kẽm, nên cố gắng cho bú sữa mẹ vì kẽm trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn nhiều so với sữa bò

Chú trọng 4 nhóm thực phẩm

Nhóm cung cấp chất bột đường, chất đạm, chất béo, giàu vitamin – khoáng chất thiết yếu. Ăn đa dạng thực phẩm: 15-20 loại thực phẩm mỗi ngày.

Đối với trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ: bà mẹ cần tiếp tục cho con bú, cho bú nhiều lần hơn kết hợp với ăn bổ sung hợp lý. Thực hiện cho trẻ bú sữa mẹ hòan toàn trong 6 tháng đầu là biện pháp tốt nhất giúp trẻ tăng trưởng, phát triển tối ưu và góp phần phòng bệnh tốt nhất.

Cho trẻ ăn đủ nhu cầu dinh dưỡng, đa dạng thực phẩm (đủ 4 nhóm thực phẩm: nhóm chất đạm, nhóm chất béo, nhóm chất bột đường, nhóm cung cấp vitamin và chất khoáng với 15-20 loại thực phẩm), Các mẹ không quá kiêng khem mà phải bù lại các chất dinh dưỡng mất đi (đặc biệt là năng lượng và protein) do quá trình nhiễm trùng và tiến triển bệnh.

Căn bệnh này không chỉ làm tăng nhu cầu một số chất dinh dưỡng mà còn tăng đào thải và giảm hấp thu chất dinh dưỡng.

Chăm sóc dinh dưỡng là vô cùng quan trọng trong dự phòng và hỗ trợ điều trị bệnh sởi để giúp cơ thể tăng sức đề kháng chống lại tác nhân gây bệnh, giảm nguy cơ mắc các biến chứng hay giảm nhẹ biến chứng khi đã mắc.

Cần đảm bảo khẩu phần ăn hàng ngày với các món ăn hợp khẩu vị nhưng thức ăn cần được cắt thái hoặc xay nhỏ hơn, chế biến mềm hơn, lỏng hơn so với lúc chưa bị bệnh.

Thay đổi món ăn và chia làm nhiều bữa nhỏ để giúp cho quá trình ăn nhai tốt hơn, ăn ngon miệng hơn và dễ tiêu hóa hơn. Tránh các thức ăn chiên xào nhiều dầu mỡ, thức ăn nướng, xông khói…

Khi chế biến tránh làm rau bị dập nát, cắt /thái và cho rau vào nấu khi nước đã sôi, nấu xong ăn ngay để tránh mất các vitamin, nhất là vitamin C và beta-caroten. Tất cả dụng cụ chế biến phải sạch sẽ, rửa tay sạch trước khi chế biến thức ăn và khi cho trẻ ăn.

Phải cho trẻ uống đủ nước, nhất là trong giai đoạn trẻ đang sốt, nôn. Có thể cho trẻ uống nước quả như nước cam, nước bưởi, nước chanh và các loại nước quả, sinh tố khác. Khi trẻ sốt cao, nôn và tiêu chảy cần cho trẻ uống dung dịch ORESOL để bù nước và điện giải theo hướng dẫn.

Sau khi trẻ đã khỏi bệnh, cần cho trẻ ăn nhiều hơn trong giai đoạn hồi phục ít nhất là 2 tuần để trẻ có thể nhanh chóng trở về tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe bình thường.

Nên bổ sung đa vitamin- khoáng chất mà trong thành phần có vitamin A, E, C, kẽm, selen…, trong đó quan trọng hơn cả là vitamin A, C và kẽm giúp cho nâng cao miễn dịch.

Để dự phòng tránh mắc bệnh sởi, mọi trẻ em đều cần được tiêm vắc sởi đầy đủ theo hướng dẫn của chuyên môn, đồng thời uống bổ sung vitamin A liều cao 6 tháng một lần đối với trẻ dưới 5 tuổi.

Khi đang bị bệnh sởi, không nên dùng các loại gia vị cay nóng như ớt, hạt tiêu, quế, hành tây, tỏi, cà ri…; hạn chế các thức ăn chứa nhiều chất béo no, nội tạng động vật.

Tuyệt đối tránh, không dùng các thức ăn đã từng bị dị ứng hoặc thức ăn lạ.