Top 10 # Xem Nhiều Nhất Bệnh Xương Khớp Ở Trẻ Em Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Mgwbeautypageant.com

Bệnh Ung Thư Xương Ở Trẻ Em

Ung thư xương ở trẻ em thường xuất phát từ các tế bào sụn, xương hoặc các tế bào mô liên kết của xương. Thông thường, trẻ em ở độ tuổi từ 13 -15 là những đối tượng dễ mắc phải căn bệnh này nhất. Bệnh không chỉ cản trở quá trình phát triển của các bộ phận trong cơ thể mà còn tạo nên những hậu quả không mong muốn nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.

Dấu hiệu nhận biết bệnh ung thư xương ở trẻ em?

Đối với bệnh ung thư xương ở trẻ em, dấu hiệu dễ dàng nhận biết nhất chính là thường xuyên xuất hiện những cơn đau và sưng tấy ở những khu vực như cánh tay, chân hoặc khớp.

Khi các khối u xương phát triển và xâm lấn vào các mô mềm xung quanh và phá vỡ cấu trúc da làm sẽ xuất hiện dấu hiệu chảy máu, viêm nhiễm khiến cho cơ thể người bệnh đau đớn và luôn mệt mỏi.

Một số trường hợp lại có dấu hiệu căng cứng các cơ xương, đau đớn khi vận động hay đi lại nhiều, cơn đau thường nặng hơn về đêm, nặng hơn có thể khiến cho xương bị gãy mà không biết rõ nguyên nhân.

Nguyên nhân gây ra bệnh ung thư xương ở trẻ em

Các bác sĩ chỉ ra rằng, nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh ung thư xương ở trẻ em là do bên trong cơ thể có sự rối loạn di truyền làm cho quá trình phân bào có gen biến dị. Điều này lí giải vì sao, trẻ em ở độ tuổi đang phát triển thường mắc phải bệnh ung thư xương nhiều nhất.

Ung thư xương cũng có thể là do các bệnh lành tính của xương chuyển hóa thành.

Điều trị bệnh ung thư xương ở trẻ em như nào?

Hiện nay, có rất nhiều phương pháp giúp điều trị bệnh ung thư xương ở trẻ em như phẫu thuật đoạn chi có ung thư, hóa trị (sử dụng các loại thuốc tiêm truyền để điều trị và ngăn ngừa tổn bệnh di căn sang các bộ phận khác, phương pháp này được thực hiện trước phẫu thuật để ngăn ngừa và tiêu diệt các tế bào ung thư).

Đối với những trẻ phải phẫu thuật cắt bỏ đoạn chi nhưng may mắn chữa khỏi được bệnh thì cũng có thể được lắp chân giả, tay giả để có được cuộc sống sinh hoạt bình thường.

Trẻ em là đối tượng được coi là mắc phải bệnh ung thư xương nhiều nhất. Chính vì thế, các bậc cha mẹ nên trang bị cho mình những kiến thức cần thiết về bệnh ung thư xương và xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lí để có thể bảo vệ con mình khỏi căn bệnh quái ác này và giúp cho con có sự phát triển an toàn nhất.

Hải Yến – Ytevietnam.edu.vn

Phòng Bệnh Thấp Khớp Cấp Ở Trẻ Em

Bệnh thấp khớp cấp hay còn gọi là bệnh thấp tim là một bệnh vừa có tổn thương ở tim. Bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em, lứa tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là lứa tuổi đến trường, từ 5-15 tuổi. Bệnh không phát hiện sớm để điều trị và phòng ngừa kịp thời rất có thể dẫn đến suy tim.

Căn nguyên gây bệnh thấp tim

Khoa học đã khẳng định rằng, vai trò của vi khuẩn liên cầu nhóm A (S. pyogenes) là thủ phạm chính gây nên thấp khớp cấp tính. Sự tồn tại, gây bệnh của liên cầu nhóm A ở khu vực đường hô hấp trẻ, nhất là ở họng và sự đáp ứng của cơ thể đối với vi khuẩn này đóng vai trò chính trong bệnh thấp khớp cấp.

Tuy vậy, không phải bất kỳ người nào, trẻ em nào có vi khuẩn liên cầu nhóm A gây bệnh hoặc tồn tại ở họng cũng gây nên thấp tim mà chỉ có một số tỷ lệ nhất định bị thấp khớp cấp mà thôi.

Ở Việt Nam theo thống kê chỉ thấy khoảng 3%o số trẻ mắc bệnh thấp tim. Đối với vi khuẩn liên cầu thì được người ta chia thành 3 nhóm chính: S. pyogenes, S. viridans và S. feacalis (chính là Enterococcus: liên cầu đường ruột). Cả 3 nhóm này về tính chất gây bệnh có khác nhau, đặc biệt chỉ có S.pyogenes (liên cầu nhóm A) mới gây bệnh thấp tim.

Thông thường người ta gặp các týp huyết thanh của liên cầu nhóm A gây bệnh thấp tim là týp 1, 3, 5, 6, 14, 18, 19, 24, 27, 29. Sở dĩ liên cầu nhóm A gây bệnh thấp tim là do đặc điểm cấu tạo vách của chúng.

Người ta thấy về cấu tạo vách của tế bào liên cầu nhóm A có phần giống với cấu tạo của khớp và cơ tim. Vì vậy khi vi khuẩn liên cầu xâm nhập vào cơ thể con người, cơ thể sẽ hình thành kháng thể chống lại chúng.

Như vậy vô hình trung kháng thể do cơ thể sinh ra cũng có phần chống lại tổ chức của chính mình mà người ta gọi là phản ứng giữa kháng nguyên của liên cầu nhóm A, kháng nguyên của tổ chức khớp, cơ tim, van tim (glycoprotien của van tim) với kháng thể của cơ thể sinh ra.

Ngoài ra, liên cầu nhóm A khi xâm nhập vào cơ thể cũng có thể gây nên viêm cầu thận cấp nhưng lại do các týp huyết thanh khác của liên cầu nhóm A chứ không phải do các týp huyết thanh gây bệnh thấp tim.

Biểu hiện của bệnh

Vi khuẩn liên cầu nhóm A có thể tồn tại ở họng của một số trẻ em (người lành mang vi khuẩn) rồi nhân lúc sức đề kháng của cơ thể vì một lý do nào đó sụt giảm thì chúng trở nên gây bệnh (gọi là gây bệnh cơ hội) hoặc vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể trẻ và gây bệnh viêm họng, viêm amidan ngay sau thời kỳ ủ bệnh.

Trẻ thường sốt cao 38 – 39oC, có khi sốt cao và dao động kèm theo vã mồ hôi, nhịp tim nhanh, da xanh tái và bắt đầu có những dấuhiệu biểu hiện ở khớp, ở tim và ở da.

Viêm khớp biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau. Thường các khớp lớn biểu hiện rõ nhất như khớp gối, khớp cổ tay, cổ chân, khớp khuỷu tay, khớp vai.

Đặc biệt cần lưu ý là các khớp sưng, đau luân chuyển từ khớp này sang khớp khác và các khớp chỉ sưng đau vài ngày là hết và lại cử động được bình thường.

Kèm theo đau khớp là viêm tim. Nhịp tim nhanh, thường trên 100 lần/ phút, trẻ tím tái, khó thở và thậm chí có phù. Trong các trường hợp bị nhẹ, trẻ chỉ kêu đau vùng tim và đánh trống ngực.

Khi bị viêm tim sẽ làm cho các van của tim hoạt động không bình thường, tức là làm mất đi sự thanh mảnh, mềm mại, đóng mở hợp lý của nó.

Các van tim dày lên, xơ cứng, vôi hóa, các mép van tim có thể bị dày, dính gây nên hở hoặc hẹp van tim và lâu dần sẽ làm loạn nhịp tim gây suy tim, đặc biệt là suy tim mất bù trừ ảnh hưởng đến khả năng lao động và có nguy cơ tử vong cao.

Dưới da của trẻ bị thấp khớp cấp có thể có các hạt.

Bệnh thấp khớp cấp có thể chữa khỏi được với điều kiện là phải phát hiện và điều trị sớm trong vòng 3 tháng đầu kể từ khi mắc bệnh. Người ta thống kê cho thấy tỷ lệ chữa khỏi rất cao (khoảng 90%), tuy nhiên sau khi chữa khỏi đợt thấp khớp cấp cũng cần tiêm phòng theo chỉ định của bác sĩ.

Cách phòng bệnh

Cần vệ sinh họng, miệng hàng ngày tránh không để trẻ mắc các bệnh viêm đường hô hấp trên như viêm họng, viêm mũi, viêm amidan, VA, viêm xoang.

Khi phát hiện trẻ đã bị viêm đường hô hấp do vi khuẩn liên cầu nhóm A cần tích cực điều trị theo đơn của bác sĩ. Khi biết trẻ bị bệnh thấp tim do vi khuẩn liên cầu nhóm A cần dùng kháng sinh để tiêu diệt hết vi khuẩn.

Tốt nhất là dùng benzathin penicilin tiêm bắp thịt với liều lượng 3 tuần tiêm một lần, mỗi lần 1,2 triệu đơn vị với người trưởng thành hoặc trẻ có cân nặng trên 30kg (với trẻ dưới 30kg cân nặng thì chỉ tiêm mỗi một lần là 600.000đơn vị).

Nếu không có điều kiện tiêm kháng sinh, có thể dùng kháng sinh dạng viên uống, như phenoxymethyl penicilin, viên 250mg, uống 1 viên một lần với 4 lần trong một ngày. Những trẻ dưới 20kg cân nặng chỉ uống 125mg/lần x 4 lần ngày.

Nếu người bệnh bị dị ứng với penicilin, có thể thay bằng erythromycin với liều lượng tương tự như phenoxymethyl penicilin và nếu trẻ nhỏ có dưới 25kg cân nặng dùng 40mg/1kg cân nặng/ ngày.

Khi đã bị thấp khớp cấp cần tiêm kháng sinh cách nhau 3 tuần một lần và tối thiểu trong 5 năm và tốt nhất là phòng bệnh đến 18 tuổi, có khi còn lâu hơn theo chỉ định của bác sĩ theo dõi bệnh cho con, em mình.

Đặc biệt những bệnh nhi trong đợt đầu đã có tổn thương tim cần tiếp tục tiêm phòng cho đến 25 tuổi và có thể kéo dài hơn nữa nếu có nguy cơ tái phát.

Và những bệnh nhân có tổn thương van tim mạn tính do thấp tim thì phòng bệnh tái phát cần kéo dài trong suốt cuộc đời.

Người ta cũng khuyên rằng một số bệnh nhân cho dù đã phẫu thuật tim do bệnh thấp tim vẫn có thể có nguy cơ tái phát và do vậy cũng cần tiêm phòng thấp khớp cấp.

Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Xương Khớp:Hyluflex

Hyluflex có thành phần chính: Hydrolyzed Collagen Type II, Hyaluronic acid, Glucosamine HCL, Chondroitin sulfate, MSM, Vitamin B1 (Thiamine Mononitrate), Pyridoxine HCL, Vitamin D3, Boswellia Serrata, Chinese Skullcap, Bromelain, Black Catechu, Turmeric Extract, Chiết xuất rễ gừng (Ginger Root Extract), Tiêu đen (Bioperine).

Công dụng: – Hỗ trợ phục hồi và tái tạo sụn, tăng tiết dịch nhờn cho khớp, – Hỗ trợ sự hoạt động linh hoạt của các khớp xương, giảm thoái hóa khớp. – Hỗ trợ giảm đau do khô khớp, viêm sưng khớp.

Đối tượng sử dụng: Dùng cho người trưởng thành (trên 18 tuổi), người vận động nặng nhọc, người bị loãng xương, thoái hóa xương khớp, chấn thương xương khớp, viêm khớp.

Sản phẩm được phân phối độc quyền tại Công ty Cổ phần Peacelife Việt Nam. Địa chỉ: 262A Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội Hotline: 0943.968.958/ 046.654.7733

Chuẩn Đoán Bệnh Lao Khớp Háng Ở Trẻ Em

Lao khớp háng là một trong những bệnh lý về xương khớp thường gặp ở trẻ em. Nếu được điều trị tích cực, lao khớp háng ở trẻ em có thể được kiểm soát tốt. Tuy nhiên, nếu không được điều trị sớm, lao khớp háng sẽ gây ảnh hưởng đến sự phát triển của cấu trúc và hình thể khớp háng và các xương ở xa, hạn chế chức năng vận động của trẻ.

Chuẩn đoán bệnh lao khớp háng ở trẻ em

Lao khớp háng là một dạng viêm khớp háng do vi khuẩn lao. Bệnh thường xuất hiện sau lao sơ nhiễm từ 2-3 năm, theo đường máu, vi khuẩn lao có thể lây lan từ phức hợp sơ nhiễm đến các xương và khớp trong cơ thể. Lao khớp háng là căn bệnh lao xương khớp phổ biến ở trẻ em, chỉ đứng sau lao cột sống. Trẻ nhỏ chưa được tiêm phòng lao bằng vaccin BCG, suy dinh dưỡng, còi xương… có nguy cơ mắc bệnh này rất cao.

Bạn có thể tìm hiểu thêm về Bệnh lao xương là gì ? Có chữa được không ? để hiểu thêm về cơ chế bệnh sinh và các đối tượng có nguy cơ mắc bệnh lao xương khớp.

Chẩn đoán lâm sàng bệnh lao khớp háng ở trẻ em

Triệu chứng toàn thân ở trẻ em bị lao khớp háng là triệu chứng chung của bệnh lao như:

Trẻ hay sốt về chiều, ra mồ hôi trộm ở trán, lưng.

Trẻ kém ăn, không muốn ăn,gầy gò, nhẹ cân, tăng cân ít, chậm lớn, kém phát triển.

Sức yếu, người hay mệt mỏi, hay ốm vặt, lười hoạt động, không chịu chơi…

Đau là biểu hiện thường gặp nhất. Trẻ luôn than đau ở vùng háng hoặc đôi khi ờ đầu gối. Đau không dữ dội nhưng kéo dài dai dẳng suốt ngày đêm, có thể khiến trẻ bị mất ngủ.

Khi khám (cho trẻ để trần, không mặc quần áo) sẽ thấy:

Tư thế đi – đứng: trẻ đứng không vững, đi đứng hạn chế, không thể đi thẳng mà thường phải nghiêng người về phía háng bị đau.

: Hạn chế các cử động thụ động vùng quanh khớp háng như dạng đùi ra phía ngoài, duỗi chân. Thực hiện các động tác gập gối cũng thấy đau.

Trẻ bị nổi hạch ở bẹn và vùng sau cung đùi, các hạch lao này mềm, sưng to, căng nhưng không gây đau.

Ngoài ra, trẻ có thể bị teo cơ ở vùng mông và cơ tứ đầu đùi. Nếp mông phía bên đau và hạ thấp. Đùi về phía bên đau không cân bằng với bên lành.

Phát hiện được ổ áp xe lạnh ở phần bẹn và mông.

Khám kỹ có thể thấy dày bao hoạt dịch khớp háng.

Ở giai đoạn đầu, khớp háng có thể bị dị lệch, sai khớp sớm, nhanh.

1- Thực hiện các xét nghiệm:

Kiểm tra tốc độ lắng máu: sẽ thấy tăng mạnh.

Kiểm tra tuberculin: nếu dương tính hoặc chuyển từ âm tính sang dương tính thì sẽ cho giá trị chẩn đoán cao.

Xét nghiệm dịch khớp tìm trực khuẩn lao, ELISA, PCR.

2- Chụp X quang:

Chụp X-quang vó vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh. Chụp x-quang sẽ thấy hẹp khe khớp và mất chất vôi đầu xương. Có thể thấy hình ảnh khuyết xương hoặc hốc nhỏ ở chỏm xương đùi phần trên ngoài.

Sinh thiết hạch gốc chi đôi khi thấy tổn thương lao đặc hiệu.

Tìm hiểu nguồn gốc lây nhiễm

Từ các thành viên trong gia đình: Những người có quan hệ mật thiết với trẻ như ông, bà, cha, mẹ hoặc những người thường xuyên gần gũi, chăm sóc trẻ.

Từ trường lớp: Thầy giáo, cô giáo, bảo mẫu, các bạn học….

Vấn để tiêm chủng BCG.

Nếu được điều trị lao khớp háng đúng nguyên tắc, hiệu quả và tích cực, trẻ có thể khỏi bệnh và phục hồi, trở lại sinh hoạt bình thường. Tuy nhiên, nếu cha mẹ không đưa trẻ đến bệnh viện sớm, điều trị không đúng cách, vi khuẩn lao có thể lan sang các bộ phận khác gây biến chứng rò mủ kéo dài, nhiễm khuẩn phụ, sai khớp, dính khớp, cứng khớp, tăng nguy cơ thoái hóa khớp háng, xơ hóa bao khớp… hoặc thậm chí là lao toàn bộ cơ thể trẻ.

Chỉ Điểm Nguyên Nhân Gây Bệnh Viêm Khớp Ở Trẻ Em

Bệnh viêm khớp ở trẻ em còn được gọi là bệnh viêm khớp thiếu niên tức là nó chỉ xảy ra với trẻ dưới 16 tuổi. Nguyên nhân gây bệnh có thể mắc phải đó là:

Do chấn thương: Trẻ em thì rất hiếu động cho nên việc té, ngã là không tránh khỏi. Khi bị té, ngã nhiều lần hoặc vận động mạnh do chơi thể thao cũng làm ảnh hưởng đến các khớp. Thường thì rất ít bố mẹ quan tâm đến điều này, thấy con té chỉ bảo đứng lên là xong.

Bệnh viêm khớp tự phát: Đây là bệnh tự miễn ở trẻ. Thường khi mắc bệnh sẽ kéo dài khoảng 6 tuần. Bệnh tự phát do bị nhiễm virus hoặc nhiễm khuẩn ở các khớp ((Chlamydia mycoplasma, Streptococcus, Salmonella, Shigella).

Do rối loạn hệ miễn dịch: Trẻ đang trong thời kỳ phát triển bản thân nên dễ bị rối loạn hệ miễn dịch, dẫn đến bị viêm khớp từ các yếu tố như lao, nhiễm khuẩn, viêm sau chấn thương, ….

Biến chứng của bệnh vảy nến xương khớp: Trường hợp này ít khi xảy ra ở trẻ em. Chỉ khi nào trẻ bị mắc bệnh vảy nến do di truyền từ bố mẹ mới bị biến chứng nặng gây ra bệnh xương khớp.

Do xương phát triển không đều: Xương phát triển không nhanh với trọng lượng cơ thể của bé dẫn đến không đồng đều, gây đau nhức xương. Nặng thì có thể bị viêm.

Do di truyền: Nguyên nhân này chưa được kiểm chứng. Nhưng theo y học, bố mẹ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp thì tỉ lệ sinh con ra mắc phải bệnh này khoảng 50%.

Dấu hiệu nhận biết bệnh này ở trẻ

Thường những triêu chứng này sau vài ngày sẽ thấy đau, sưng đỏ ở các khớp tay, khớp chân, khớp háng, … Ngoài ra, trẻ có thể bị nổi hạch, viêm thanh mạc, viêm màng phổi. Các bệnh lí đi kèm bao gồm: sốt khoảng 38 – 40 độ, mệt mỏi toàn thân, đau rát họng có thể kèm theo đờm, …

Ngoài ra, để phòng tránh bệnh viêm khớp ở trẻ phụ huynh nên lưu ý đến chế độ ăn của trẻ. Bổ sung canxi, vitamin khoáng chất có lợi cho xương. Luyện tập thể thao nhẹ nhàng bằng các bài tập vừa sức như bơi, cầu lông, …. Cho trẻ ăn, ngủ đúng giờ.