Top 5 # Xem Nhiều Nhất Lịch Sử Bệnh Nhân 1694 Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Mgwbeautypageant.com

Bệnh Nhân 1694 Ở Nam Từ Liêm Lây Cho 8 F1 Lịch Trình Phức Tạp, Lời Khai Quanh Co

Lãnh đạo quận Nam Từ Liêm (Hà Nội) cho biết, BN1694 trú ở Xuân Phương lây cho 8 F1 có lịch trình di chuyển phức tạp, lời khai quanh co.

Chiều 3/2, tại cuộc họp Ban chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19 TP. Hà Nội, lãnh đạo quận Nam Từ Liêm cho biết, trường hợp bệnh nhân 1694 có lịch trình di chuyển phức tạp, “lời khai quanh co, gây khó khăn cho ngành y tế”.

“Đối với các trường hợp này chúng tôi đề nghị, các phường khi lấy lời khai có công an đi cùng”, lãnh đạo quận Nam Từ Liêm nói.

Theo vị lãnh đạo quận, TP. Hà Nội đã xác định được 666 trường hợp đi từ Hải Dương, Quảng Ninh về, sau khi lấy mẫu xét nghiệm cho kết quả 4 trường hợp dương tính.

Bệnh nhân 1694 là N.Q.M (40 tuổi, nghề nghiệp bộ đội) có địa chỉ ở số 479 đường Phúc Diễn, tổ 1, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Theo thống kê của Sở Y tế Hà Nội, đã có 8 F1 của bệnh nhân này mắc COVID-19 gồm các bệnh nhân 1695, 1719, 1720, 1721, 1722, 1723, 1724, 1725. Trong đó, 5 người trong gia đình BN 1694 đã bị lây COVID-19 từ bệnh nhân này.

Việt Nam có 86% ca nhiễm COVID-19 không có triệu chứng

Theo báo cáo của Cục Quản lý Khám chữa bệnh, trong số 372 bệnh nhân COVID-19 đang điều trị, trong đó, 322 ca (chiếm 86,6%, tại Hải Dương, Quảng Ninh, Hà Nội, Gia Lai…) là không có triệu chứng lâm sàng, biểu hiện nhẹ là 44 ca (11,8%), tiên lượng nặng 1 ca (0,3%), nguy kịch (dùng ECMO) 1 ca (0,3%).

Tỉ lệ bệnh nhân không triệu chứng như trên là cao hơn so với khảo sát ở nhóm bệnh nhân nhiễm chủng virus cũ, thông thường là trên 60%.

Theo kết quả giải trình tự gen tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, trong 16 mẫu gửi đến có 11 mẫu đạt yêu cầu để giải trình tự gen thì cả 11 mẫu đều là chủng virus biến thể ghi nhận lần đầu tại Anh.

Tại phiên họp chiều 2/2, đại diện tỉnh Gia Lai cũng cho biết, đến chiều 2/2 tỉnh ghi nhận 13 ca mắc Covid-19, nhưng 12/13 ca này không có triệu chứng, chỉ 1 ca có vài triệu chứng nhẹ.

Chuyên gia truyền nhiễm, BS Trương Hữu Khanh đánh giá, với con số hơn 86% bệnh nhân không có triệu chứng thì việc phát hiện các ca bệnh càng khó hơn mà chủ yếu qua truy vết và xét nghiệm.

Lịch Sử Ngày Ngày Thế Giới Phòng Chống Bệnh Aids (World Aids Day)

Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS (World AIDS Day) là ngày lễ quốc tế được cử hành vào ngày 1 tháng 12 hàng năm, nhằm nâng cao nhận thức về nạn dịch AIDS do việc lây nhiễm HIV, và để tưởng nhớ các nạn nhân đã chết vì HIV/AIDS.

“Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS” được James W. Bunn và Thomas Netter, hai viên chức thông tin đại chúng cho “Chương trình toàn cầu về bệnh AIDS” của Tổ chức Y tế Thế giới tại Genève, Thụy Sĩ nghĩ ra lần đầu trong tháng 8 năm 1987. Bunn và Netter nêu ý kiến của họ cho Dr. Jonathan Mann, Giám đốc Chương trình toàn cầu về bệnh AIDS (nay gọi là Chương trình chung của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS). Dr. Mann thích sáng kiến này, đã chấp thuận và đồng ý với khuyến nghị về việc tổ chức “Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS” đầu tiên vào ngày 1 tháng 12 năm 1988.

Ngày 18.6.1986 chương trình “AIDS Lifeline” của đài truyền hình KPIX – một dự án giáo dục cộng đồng – có vinh dự được tổng thống Ronald Reagan nêu ra như một dẫn chứng về sáng kiến trong khu vực tư nhân. Do vai trò đồng sáng tạo chương trình “AIDS Lifeline” Bunn được Dr. Mann yêu cầu – nhân danh chính phủ Hoa Kỳ – nghỉ phép 2 năm (ở đài truyền hình KPIX) để theo Dr. Mann, một nhà dịch tễ học làm việc ở các Trung tâm kiểm soát bệnh, để phụ tá trong việc sáng tạo “Chương trình toàn cầu về bệnh AIDS” cho Tổ chức Y tế Thế giới của Liên Hiệp Quốc. Bunn đồng ý và được bổ nhiệm làm Viên chức thông tin đại chúng thứ nhất cho Chương trình toàn cầu về bệnh AIDS. Cùng với Netter, Bunn đã nghĩ ra, thiết kế và thực hiện lễ khai mạc “Ngày thế giới phòng chống bệnh AIDS” đầu tiên – nay là nhận thức và sáng kiến phòng chống bệnh kéo dài nhất trong lịch sử y tế công cộng.

Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) ra đời năm 1996, đóng vai trò dẫn dắt đáp ứng toàn cầu với HIV. UNAIDS dẫn dắt và truyền cảm hứng cho toàn thế giới trong nỗ lực thực hiện tầm nhìn chung về Không còn người nhiễm mới HIV, Không còn phân biệt đối xử và Không còn người tử vong do AIDS. UNAIDS tập hợp nỗ lực của 11 tổ chức Liên Hợp Quốc, gồm UNHCR, UNICEF, WFP, UNDP, UNFPA, UNODC, UN Women, ILO, UNESCO, WHO và Ngân hàng thế giới, và phối hợp chặt chẽ với các đối tác toàn cầu cũng như ở cấp quốc gia nhằm tiến tới kết thúc dịch AIDS vào năm 2030, để AIDS không còn là một mối nguy cho sức khỏe cộng đồng.

Với hình tượng dải băng đỏ, có thể là buộc ở cổ tay hoặc được để ở những nơi trang trọng, chính là biểu tượng toàn cầu cho tình đoàn kết với những người nhiễm HIV và những người bệnh AIDS.

UNAIDS bắt đầu hỗ trợ Việt Nam ngay từ năm 1996 – năm thành lập của tổ chức. Một Cố vấn chương trình quốc gia được phái đến Việt Nam và một văn phòng nhỏ được mở tại trụ sở của Bộ Y tế cũng vào năm này, khởi đầu hoạt động của văn phòng UNAIDS tại Việt Nam.

Từ đó đến nay, UNAIDS đã phát triển lớn mạnh trong vai trò dẫn dắt đáp ứng với HIV trên toàn thế giới cũng như ở cấp độ quốc gia. Hỗ trợ của UNAIDS dành cho Chính phủ và nhân dân Việt Nam cũng đã gia tăng đáng kể.

UNAIDS hỗ trợ Việt Nam khởi xướng và triển khai các sáng kiến mới trong đáp ứng với HIV, nhằm tăng cường và duy trì bền vững tiếp cận tới các dịch vụ về HIV cho những nhóm người chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi HIV, tạo ra hiệu suất lớn hơn trong chương trình phòng, chống HIV, hướng tới một đáp ứng tối ưu với HIV nhằm thực hiện mục tiêu 90-90-90 và kết thúc đại dịch AIDS tại Việt Nam. UNAIDS còn là một đối tác chính của Chính phủ Việt Nam trong việc điều phối hỗ trợ quốc tế cho phòng, chống HIV và quan hệ đối tác với các tổ chức xã hội dân sự hoạt động trong lĩnh vực phòng, chống HIV. Các đối tác quốc tế và trong nước gồm Quỹ toàn cầu phòng, chống AIDS, lao và sốt rét (Quỹ toàn cầu), Chương trình cứu trợ AIDS khẩn cấp của tổng thống Hoa Kỳ (PEPFAR), Mạng lưới quốc gia của người sống chung với HIV (VNP+) và các đối tác khác.

Tuy nhiên, điều trị HIV mới chỉ dừng lại ở thuốc kháng virus có tên gọi ARV. Tổ chức Y tế Thế giới cho biết đến nay, điều trị bằng thuốc ARV được coi là điều trị đặc hiệu vì nó làm ức chế sự nhân lên của virus, từ đó duy trì được lượng virus thấp nhất trong máu và duy trì được tình trạng bình thường của hệ miễn dịch.

Timothy Ray Brown, 52 tuổi, là một trong số 70 triệu người nhiễm HIV và là người duy nhất trên thế giới được điều trị khỏi loại virus quái ác vốn tưởng như vô phương cứu chữa này.

Sau khi không còn bất kỳ dấu hiệu nào của HIV, ông Brown được giới thiệu với thế giới với cái tên “bệnh nhân Berlin” bởi ông muốn giấu danh tính mình. Nhưng đến năm 2010, ông đã quyết định xuất hiện trước công chúng.

Tính đến năm 2017, tổng số người nhiễm HIV trên toàn thế giới là 36,9 triệu người, trong đó tập trung đông nhất ở khu vực Bắc và Nam Phi với 19,6 triệu người. Ngoài ra, số lượng trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm HIV là 1,8 triệu trẻ.

Trẻ em đang bị bỏ lại phía sau…

Ông Michel Sidibé, Giám đốc điều hành UNAIDS, chia sẻ: “Trẻ em đang bị bỏ lại phía sau. Trong khi về tổng thể, việc điều trị HIV đang ở mức cao nhưng trẻ em đang phải chịu một sự bất công rất lớn. Chỉ một nửa số trẻ em dưới 15 tuổi được điều trị vào năm ngoái”. Trẻ em từ 0-4 tuổi thường bị nhiễm HIV từ khi còn trong bụng mẹ. Dẫu vậy, trường hợp của “em bé Nam Phi” đã giúp nhiều trẻ em có thêm hy vọng sẽ không phải điều trị bằng thuốc trong những năm tháng trưởng thành.

Theo một báo cáo được đưa tại hội nghị ở Paris năm 2017, một em bé bị nhiễm HIV từ khi sinh ra và trải qua một đợt điều trị ngắn đã sống sót khỏe mạnh trong suốt 9 năm qua mà không cần thêm một loại thuốc nào. Trường hợp này được thế giới biết đến với cái tên “em bé Nam Phi”.

Trước đó, vào năm 2007, một cuộc thử nghiệm trên trẻ sơ sinh nhiễm HIV từ khi sinh ra đã được tiến hành tại Nam Phi, một trong những điểm nóng nhất của HIV trên thế giới. Những đứa trẻ này được lựa chọn ngẫu nhiên và chia thành hai nhóm điều trị, một nhóm được điều trị trong 40 tuần với thuốc kháng virus và nhóm còn lại là 96 tuần. “Em bé Nam Phi” này là một trong 143 đứa trẻ được điều trị trong khóa ngắn hơn. Khi quãng thời gian điều trị bằng thuốc kết thúc, các nhà nghiên cứu đã không còn tìm thấy virus HIV trong máu của em.

Các nhà nghiên cứu đã hy vọng rằng họ có thể đúc kết được nhiều từ trường hợp này để có thể cứu những đứa trẻ khác không phải dùng thuốc hàng ngày trong suốt cuộc đời.

Tuy nhiên, hy vọng này của các nhà nghiên cứu đã tan vỡ khi họ phát hiện ra rằng “em vé Nam Phi” không hoàn toàn được chữa khỏi. Mặc dù không có sự lan truyền của HIV nhưng thông qua các kỹ thuật thử nghiệm tiên tiến, họ phát hiện ra một khối chứa virus tích hợp bên trong một tỉ lệ nhỏ tế bào miễn dịch. Nhưng xét về tổng thể, hệ thống miễn dịch của đứa trẻ hoàn toàn khỏe mạnh, không có dấu hiệu nhiễm HIV cũng như các triệu chứng của căn bệnh.

Câu chuyện của “em bé Nam Phi” là trường hợp thứ ba của trẻ bị nhiễm HIV mà vẫn khỏe mạnh trong một thời gian dài không cần điều trị. Trước đó, các nhà nghiên cứu đã báo cáo về một em bé Pháp sinh năm 1996 nhiễm HIV từ khi sinh ra và được điều trị khi 3 tháng tuổi. Đứa trẻ này đã sống khỏe mạnh và không tìm thấy virus HIV trong người trong suốt 11 năm sau đó.

Thật khó có thể khẳng định đến khi nào con người mới có được loại thuốc chữa trị được căn bệnh này khi mới chỉ có rất ít người may mắn sống sót, trong khi con số những người mắc HIV vẫn chưa dừng lại. Đồng thời, nhiều khó khăn trong việc chữa trị HIV đang tồn tại như phân biệt đối xử, điều kiện về thiết bị, cơ sở y tế, nhận thức của cộng đồng…

Song, điều khiến chúng ta có thể lạc quan là tính đến năm 2017, 75% người sống chung với HIV đều đã hiểu được tình trạng của mình, 79% đã được tiếp cận điều trị và 81% trong số đó đã ức chế được virus HIV.

Ông Sidibé khẳng định, giải pháp cho thách thức này chính là trách nhiệm của các nhà lãnh đạo, chính phủ các quốc gia và cộng đồng trong việc đầu tư đầy đủ về mặt tài chính và thiết lập một hệ thống pháp lý, chính sách cần thiết để đưa những sáng kiến hiệu quả đến với toàn thế giới.

Thực tế cho thấy các bệnh xã hội nói chung và AIDS nói riêng đã trở thành một trong các dịch bệnh phá hoại lớn nhất trong lịch sử. Cho đến nay chúng ta vẫn đang tập trung nghiên cứu nhằm tìm ra lọai vắc xin, thuốc đặc hiệu để tiêu diệt HIV.

Mặc dù gần đây, việc điều trị và phòng chống HIV đã được cải thiện ở nhiều vùng trên thế giới, nhưng tỉ lệ người mắc HIV và số lượng người chết vì AIDS vẫn là rất lớn. Vì vậy, biết cách tự phòng cho mình và cho cộng động cũng như tuyên truyền cho mọi người cùng hiểu biết được coi như là một vắc xin để phòng ngừa HIV/AIDS hiện nay.

NGUYỄN THỊ THANH HÀ (Tổng hợp)

Lịch Trình 11 Bệnh Nhân Covid Được Công Bố Ngày Hôm Nay

Ban Chỉ đạo Phòng chống dịch COVID-19 thành phố Đà Nẵng cung cấp thông tin về kết quả điều tra, giám sát, xử lý đối với 11 Trường hợp bệnh nhân mắc COVID-19 được công bố ngày 20/8, cụ thể:

1. Bệnh nhân số 994: N.N.K.T – Nữ (1982, đường Trần Bình Trọng, P. Phước Ninh, Q. Hải Châu, Tp. Đà Nẵng.) – Nhân viên ngân hàng Eximbank – Chi nhánh Đà Nẵng (48 Trần Phú, Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng)

Tiền sử dịch tễ trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Hiện tại bệnh nhân đang sống cùng chồng P.T.Q và 03 người con (P.V.T.T, P.N.T.B và P.T.B) tại đường Trần Bình Trọng, P. Phước Ninh. Từ ngày 31/7, bệnh nhân đã tạm dừng công việc tại Ngân hàng Eximbank do thực hiện việc giãn cách xã hội. Từ ngày 31/7 đến 04/8, bệnh nhân ở nhà, tiếp xúc với những người trong gia đình. Thỉnh thoảng bệnh nhân cùng 02 con (P.V. T.T, P.N.T.B) đến nhà bố mẹ chồng ở đường Tăng Bạt Hổ, P. Hải Châu 2, Q. Hải Châu chơi. Tại đây, bệnh nhân và 02 con tiếp xúc với bố chồng (bệnh nhân số 742 được Bộ Y tế công bố ngày 06/8) và mẹ chồng (bệnh nhân số 804 được Bộ Y tế công bố ngày 08/8). Ngày 05/8, bệnh nhân tiếp tục đến nhà bố, mẹ chồng. Tối cùng ngày, sau khi bố chồng, là bệnh nhân số 742 có kết quả xét nghiệm (+) với vi rút SARS-CoV-2, bệnh nhân cùng chồng và 02 con (P.V. T.T, P.N.T.B) được chuyển đến cách ly tại ký túc xá Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật – Đại học Đà Nẵng, Q. Hải Châu. Ngày 06/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm dịch hầu họng (lần 1) và cho kết quả (-) với vi rút SARS-CoV-2. Từ ngày 06/8 đến 10/8, bệnh nhân cùng chồng và 02 người con (P.V. T.T, P.N.T.B) tiếp tục được cách ly tại phòng 117 ở khu cách ly thuộc ký túc xá Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật – Đại học Đà Nẵng. Từ ngày 11/8 đến 15/8, tại khu cách ly, bệnh nhân cùng 02 người con (P.V. T.T, P.N.T.B) được chuyển đến phòng 213.

Lịch trình cụ thể 3 ngày trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Từ ngày 16 đến 18/8, bệnh nhân chỉ ở phòng 213 cùng với 02 người con (P.V. T.T, P.N.T.B) tại khu cách ly thuộc ký túc xá Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật – Đại học Đà Nẵng. Ngày 19/8 bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 2) và tối cùng ngày có kết quả xét nghiệm (+) với vi rút SARS-CoV-2. Hiện tại, bệnh nhân được cách ly và điều trị tại Trung tâm Y tế Hòa Vang.

2. Bệnh nhân số 995: N. T. T – Nữ (1971, thôn Bích Bắc, xã Điện Hòa, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) – Kinh doanh tự do

Tiền sử dịch tễ trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Bệnh nhân sống cùng con gái N. T.T (sinh viên Trường Cao đẳng Thương mại Đà Nẵng) tại thôn Bích Bắc, xã Điện Hòa, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ngày 25/7, bệnh nhân đến chăm sóc mẹ N.T.M, là bệnh nhân điều trị tại Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Đà Nẵng. Sau đó, trong ngày bệnh nhân trở về nhà tại tỉnh Quảng Nam. Từ ngày 25/7 đến 14/8, chị của bệnh nhân (bệnh nhân số 986 được Bộ Y tế công bố ngày 18/8) thay thế bệnh nhân chăm sóc mẹ tại Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Đà Nẵng. Trong thời gian này, bệnh nhân tự cách ly ở nhà tại thôn Bích Bắc, xã Điện Hòa, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, tiếp xúc với con gái, không đến TP Đà Nẵng và cũng không tiếp xúc với bệnh nhân số 986. Thỉnh thoảng, bệnh nhân đến mua thức ăn tại điểm bán thực phẩm gần nhà, hoặc của những người bán rong và những người xung quanh nơi cư trú. Trong lúc tiếp xúc bệnh nhân luôn mang khẩu trang.

Lịch trình cụ thể 3 ngày trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Từ ngày 15/8 đến 17/8 (không nhớ rõ ngày), bệnh nhân mua rau của vợ ông A, khi tiếp xúc cả 2 người không nói cH. với nhau và đều mang khẩu trang. Khoảng 16 giờ ngày 18/8, bệnh nhân chở con gái bằng xe máy từ thị xã Điện Bàn đến nhà em gái N. T.T tại tổ 6, thôn Lệ Sơn Bắc, xã Hòa Tiến, H. Hòa Vang. Tại đây, chỉ có con gái bệnh nhân vào nhà chị T, bệnh nhân đứng ngoài sân vàkhông tiếp xúc với ai. Nhà chị T có 4 người. Sau đó, bệnh nhân được 01 người quen (anh Đ, tên thường gọi là T, làm nghề sửa điện thoại tại quầy Thanh Số tại tổ 6, thôn Lệ Sơn Bắc, xãHòa Tiến, H. Hòa Vang)dùng xe máy chở đến Trung tâm y tế Q. Ngũ Hành Sơn để chăm sóc mẹ (cả hai người không đến địa điểm khác và không tiếp xúc với người khác). Khoảng 16 giờ 30 ngày 18/8, bệnh nhân có mặt tại Trung tâm Y tế Q. Ngũ Hành Sơn, Tại đây, bệnh nhân (có mang khẩu trang) khai báo y tế, tiếp xúc với 2 nhân viên y tế là L. T.T.B và Đ.T.S. Sau đó, điều dưỡng Đ.T.S đưa bệnh nhân đến khu cách ly và bệnh nhân được điều dưỡng T.T.H đưa đến phòng cách ly để chăm sóc mẹ N.T.M. Khoảng 19 giờ 15 cùng ngày, hộ lý L. T.T đưa cơm đến cho bệnh nhân. Sáng ngày 19/8, bệnh nhân tiếp xúc với bác sĩ H.T.K.C, bác sĩ N.Đ.L, bác sĩ Đ.N.C và điều dưỡng T.T.N đến khám và chăm sóc các bệnh nhân tại phòng cách ly. Cùng ngày, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng và có kết quả xét nghiệm (+) với vi rút SARS-CoV-2. Trong quá trình tiếp xúc với bệnh nhân, làm việc, các nhân viên y tế đều mặc trang phục phòng, chống dịch, đeo khẩu trang… theo quy định. Hiện tại, bệnh nhân được cách ly và điều trị tại Bệnh viện Phổi.

3. Bệnh nhân số 996: P.H.T – Nam (1992, thôn Trung Phước 2, xã Quế Trung, H. Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam) Tiền sử bệnh tật: Bệnh bạch cầu cấp

Tiền sử dịch tễ trước khi bệnh nhân xuất hiện triệu chứng nghi ngờ

Bệnh nhân sống cùng gia đình tại thôn Trung Phước 2, xã Quế Trung, H. Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Ngày 25/7, bệnh nhân cùng bố và mẹ đến khám và bệnh nhân nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Đức, đến khoảng 11 giờ cùng ngày, bệnh nhân được chuyển đến điều trị tại Khoa nội Thần kinh, Bệnh viện Đà Nẵng. Ngày 26/7 và 27/7, bệnh nhân được cách ly và điều trị tại Khoa nội Thần kinh, Bệnh viện Đà Nẵng. Trong thời gian này, mẹ bệnh nhân cũng được cách ly và trực tiếp chăm sóc bệnh nhân.

Lịch trình cụ thể 3 ngày trước khi bệnh nhân xuất hiện triệu chứng nghi ngờ

Ngày 28/7, bệnh nhân tiếp tục được cách ly và điều trị tại Khoa nội Thần kinh, Bệnh viện Đà Nẵng. Ngày 29/7, tại Bệnh viện Đà Nẵng, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 1) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 30/7, bệnh nhân tiếp tục được cách ly cùng với mẹ tại Khoa nội Thần kinh, Bệnh viện Đà Nẵng. Ngày 31/7, bệnh nhân được chuyển đến cách ly tại Bệnh viện Đa khoa Gia Đình Đà Nẵng, đến 19 giờ cùng ngày, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng sốt. Ngày 01/8, bệnh nhân tiếp tục được cách ly và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Gia Đình Đà Nẵng. Ngày 02/8, tại Bệnh viện Đa khoa Gia Đình Đà Nẵng, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 2) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 03/8, bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng nặng nên được chuyển đến cách ly và điều trị tại Khoa nội Thần kinh, Bệnh viện Đà Nẵng. Tại đây, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 3) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Từ ngày 04/8 đến 11/8, bệnh nhân được chuyển đến cách ly và điều trị tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, trong thời gian này bệnh nhân vẫn còn mệt mỏi và sốt. Ngày 12/8, vì tình trạng bệnh nhân chuyển biến nặng nên em trai vào chăm sóc bệnh nhân. Từ ngày 13/8 đến 17/8, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng sốt cao, khó thở, đau họng. Trong khoảng thời gian này, bệnh nhân và em trai tiếp tục ở tại phòng thuộc khu cách ly cùng với khoảng 15 người (là các bệnh nhân và người nhà, trong đó có các bệnh nhân chuyển đến từ Bệnh viện Đà Nẵng). Ngày 18/8, tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 4), gửi đến Bệnh viện Phổi Đà Nẵng xét nghiệm. Tại đây, bệnh nhân có kết quả xét nghiệm nghi ngờ với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 19/8, Bệnh viện Phổi Đà Nẵng gửi mẫu xét nghiệm của bệnh nhân đến Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP Đà Nẵng để xét nghiệm khẳng định và tối cùng ngày có kết quả xét nghiệm (+) với vi rút SARS-CoV-2. Hiện tại, bệnh nhân được cách ly và điều trị tại Bệnh viện Phổi.

4. Bệnh nhân số 997: T. T. T. N – Nữ (1980, thôn Phú Trung, xã Đại Hiệp, H. Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.) – Nông dân

Tiền sử dịch tễ trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Trước ngày 04/8, bệnh nhân ở cùng gia đình tại thôn Phú Trung, xã Đại Hiệp, H. Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Từ ngày 04/8 đến 18/8: Bệnh nhân đến chăm sóc mẹ chồng (Đ.T.B) là bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng. Tại đây, bệnh nhân Nga được cách ly và chăm sóc mẹ chồng tại phòng thuộc khu cách ly Bệnh viện Ung bướu cùng với một số người trong đó có các bệnh nhân chuyển đến từ Bệnh viện Đà Nẵng.

Lịch trình cụ thể 3 ngày trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Từ ngày 15 đến ngày 17/8, bệnh nhân tiếp tục được cách ly và chăm sóc mẹ chồng tại phòng thuộc khu cách ly của Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng. Ngày 18/8, tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng, gửi đến Bệnh viện Phổi Đà Nẵng xét nghiệm. Tại đây, bệnh nhân có kết quả xét nghiệm nghi ngờ với vi rút SARS-CoV-2 Ngày 19/8, Bệnh viện Phổi Đà Nẵng gửi mẫu xét nghiệm của bệnh nhân đến Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP Đà Nẵng để xét nghiệm khẳng định và tối cùng ngày có kết quả xét nghiệm (+) với vi rút SARS-CoV-2. Hiện tại, bệnh nhân được cách ly và điều trị tại Bệnh viện Phổi.

5. Bệnh nhân số 998: T.V.T – Nam (1973 Địa chỉ nhà trọ: tổ 2 thị trấn Châu Ổ, H. Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi)

Tiền sử dịch tễ trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Khoảng đầu tháng 7, bệnh nhân cùng vợ N. T.T.N đến khám (u bàn chân trái) và bệnh nhân nhập viện điều trị tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng. Khoảng ngày 22/7, 23/7 (không nhớ rõ ngày), vào buổi trưa, bệnh nhân cùng vợ đón xe taxi của hãng Vinasun (không nhớ biển số xe) đến khám và nhập viện tại Khoa Ngoại chấn thương, Bệnh viện Đà Nẵng. Từ ngày 24/7 đến ngày 28/7, bệnh nhân chỉ ở tại Khoa Ngoại chấn thương, Bệnh viện Đà Nẵng, không đi đến nơi khác. Trong thời gian này, vợ bệnh nhân là người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân. Ngày 29/7, tại Bệnh viện Đà Nẵng, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 1) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Từ ngày 30/7 đến 03/8, bệnh nhân và vợ tiếp tục được cách ly tại phòng thuộc Khoa Ngoại chấn thương, Bệnh viện Đà Nẵng, tiếp xúc với 07 người cùng phòng (không nhớ rõ tên). Khoảng 15 giờ ngày 04/8, bệnh nhân cùng với vợ và 01 bệnh nhân khác được xe cấp cứu chuyển đến cách ly tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng. Tại đây, bệnh nhân cùng vợ được cách ly tại phòng cùng với một số người trong đó có các bệnh nhân chuyển đến từ Bệnh viện Đà Nẵng. Từ ngày 05/8 đến 14/8, bệnh nhân được cách ly và điều trị tại phòng thuộc khu cách ly của Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng.

Lịch trình cụ thể 3 ngày trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Từ ngày 15/8 đến 17/8, bệnh nhân tiếp tục được cách ly và điều trị tại phòng thuộc khu cách ly của Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng. Ngày 18/8, tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 2), gửi đến Bệnh viện Phổi Đà Nẵng xét nghiệm. Tại đây, bệnh nhân có kết quả xét nghiệm nghi ngờ với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 19/8, Bệnh viện Phổi Đà Nẵng gửi mẫu xét nghiệm của bệnh nhân đến Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP Đà Nẵng để xét nghiệm khẳng định và tối cùng ngày có kết quả xét nghiệm (+) với vi rút SARS-CoV-2. Hiện tại, bệnh nhân được cách ly và điều trị tại Bệnh viện Phổi Đà Nẵng.

6. Bệnh nhân số 1001: N.P.L.P – Nữ (1996, K882 Trường Chinh, P. Hòa Phát, Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng) – Nhân viên Marketing (hiện đã tạm nghỉ)

Tiền sử dịch tễ trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Bệnh nhân sống cùng gia đình tại K882 Trường Chinh. Từ ngày 01/8 đến 10/8, bệnh nhân chỉ ở nhà, tiếp xúc với những người trong gia đình, không đi đến nơi khác. Khoảng 15 giờ ngày 11/8, bệnh nhân đến mua hàng tại cửa hàng Vinmart trên đường Lê Trọng Tấn (không nhớ rõ địa chỉ), tiếp xúc với 01 nhân viên thu ngân và khoảng 2 – 3 khách hàng sau đó trở về nhà. Tối ngày 12/8:

+ Khoảng từ 19 giờ đến 19 giờ 30, dì bệnh nhân (là Bệnh nhân số 953 được Bộ Y tế công bố ngày 16/8) đến nhà chơi và tiếp xúc với bệnh nhân.

7. Bệnh nhân số 1002: N.T.B – Nữ (1965, thôn 9, xã Quế Phú, H. Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

Tiền sử dịch tễ trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Ngày 26/7, bệnh nhân đến chăm sóc bố N.Đ.N (82 tuổi), là bệnh nhân điều trị tại Khoa Nội Thận – Nội tiết niệu, Bệnh viện Đà Nẵng. Từ ngày 26/7 đến 02/8, bệnh nhân chỉ ở tại Khoa Nội Thận – Nội tiết niệu chăm sóc bố, không đi đến nơi khác. Trong thời gian này (không nhớ rõ ngày), tại Bệnh viện Đà Nẵng, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 1) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Tối ngày 02/8 bệnh nhân được chuyển đến cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ. Tại đây bệnh nhân ở cùng phòng với 05 người. Từ ngày 03/8 đến 12/8, bệnh nhân tiếp tục được cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ. Ngày 13/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 2) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 14/8, bệnh nhân chỉ ở trong phòng thuộc khu cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ.

Lịch trình cụ thể 3 ngày trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Từ ngày 15/8 đến 17/8, bệnh nhân chỉ ở trong phòng thuộc khu cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ. Ngày 18/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 3) và có kết quả xét nghiệm nghi ngờ với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 19/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 4) và ngày 20/8 có kết quả xét nghiệm khẳng định (+) với vi rút SARS-CoV-2. Hiện tại, bệnh nhân được cách ly và điều trị tại Trung tâm Y tế Hòa Vang

8. Bệnh nhân số 1003: P.T.L – Nữ (1955, đường Dương Vân Nga, tổ 60, P. Mân Thái, Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng

Tiền sử dịch tễ trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Từ tháng 5, bệnh nhân thường xuyên chăm sóc em trai N.L.H, là bệnh nhân điều trị tại Khoa Y học nhiệt đới, Bệnh viện Đà Nẵng. Từ khoảng giữa tháng 7 đến 02/8, bệnh nhân chỉ ở tại Bệnh viện Đà Nẵng chăm sóc em trai, không đi đến nơi khác. Trong khoảng thời gian này (không nhớ rõ ngày), tại Bệnh viện Đà Nẵng, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 1) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Tối ngày 02/8, bệnh nhân được chuyển đến cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ. Từ ngày 03/8 đến 12/8, bệnh nhân tiếp tục được cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ. Ngày 13/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 2) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 14/8, tại khu cách ly, khi có bệnh nhân trong phòng có kết quả xét nghiệm (+) với vi rút SARS-Cov-2, bệnh nhân được chuyển sang phòng khác cách ly.

Lịch trình cụ thể 3 ngày trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Từ ngày 15/8 đến 17/8, bệnh nhân chỉ ở trong phòng thuộc khu cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ. Ngày 18/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 3) và có kết quả xét nghiệm nghi ngờ với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 19/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 4) và ngày 20/8 có kết quả xét nghiệm khẳng định (+) với vi rút SARS-CoV-2. Hiện tại, bệnh nhân được cách ly và điều trị tại Trung tâm Y tế Hòa Vang.

9. Bệnh nhân số 1004: H.T.M.T – Nữ (1976, thôn 8, xã An Ninh Đông, H. Tuy An, tỉnh Phú Yên)

Tiền sử dịch tễ trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Khoảng giữa tháng 7, bệnh nhân đến chăm sóc mẹ N. T.T, là bệnh nhân điều trị tại Khoa Nội thận – Nội tiết niệu, Bệnh viện Đà Nẵng. Từ khoảng giữa tháng 7 đến 02/8, bệnh nhân chỉ ở tại Khoa Nội Thận – Nội tiết niệu chăm sóc mẹ, không đi đến nơi khác. Ngày 29/7, tại Bệnh viện Đà Nẵng, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 1) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Tối ngày 02/8, bệnh nhân được chuyển đến cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ. Từ ngày 03/8 đến 12/8, bệnh nhân tiếp tục được cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ. Ngày 13/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 2) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 14/8, tại khu cách ly, khi có bệnh nhân trong phòng có kết quả xét nghiệm (+) với vi rút SARS-Cov-2, bệnh nhân được chuyển đến phòng khác cách ly.

Lịch trình cụ thể 3 ngày trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm Ngày 15/8, 16/8 và 17/8, bệnh nhân chỉ ở trong phòng thuộc khu cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ. Ngày 18/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 3) và có kết quả xét nghiệm nghi ngờ với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 19/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 4) và ngày 20/8 có kết quả xét nghiệm khẳng định (+) với vi rút SARS-CoV-2. Hiện tại, bệnh nhân được cách ly và điều trị tại Trung tâm Y tế Hòa Vang.

10. Bệnh nhân số 1005: H.T.N – Nữ (1962, thôn Trước Đông, xã Hòa Nhơn, H. Hòa Vang, Tp. Đà Nẵng)

Tiền sử dịch tễ trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Ngày 26/7, bệnh nhân đến chăm sóc chồng (Bệnh nhân số 702 được Bộ Y tế công bố ngày 05/8), là bệnh nhân điều trị tại Khoa Nội thận – Nội tiết niệu, Bệnh viện Đà Nẵng. Từ ngày 26/7 đến 02/8, bệnh nhân chỉ ở tại Khoa Nội Thận – Nội tiết niệu chăm sóc chồng, không đi đến nơi khác. Trong thời gian này (không nhớ rõ ngày), tại Bệnh viện Đà Nẵng, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 1) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Tối ngày 02/8, bệnh nhân được chuyển đến cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ. Tại đây, bệnh nhân ở cùng phòng với N.T.B (1965), H.T.N (1962), P. T.T.V (1976), T.T.S (1974) và N.V.Q (1977). Từ ngày 03/8 đến 12/8, bệnh nhân tiếp tục được cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ. Ngày 13/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 2) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 14/8, bệnh nhân chỉ ở trong phòng thuộc khu cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ.

Lịch trình cụ thể 3 ngày trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm: Từ ngày 15/8 đến 17/8, bệnh nhân chỉ ở trong phòng thuộc khu cách ly tại Sư đoàn 375, Q. Cẩm Lệ. Ngày 18/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 3) và có kết quả xét nghiệm nghi ngờ với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 19/8, tại khu cách ly, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 4) và ngày 20/8 có kết quả xét nghiệm khẳng định (+) với vi rút SARS-CoV-2. Hiện tại, bệnh nhân được cách ly và điều trị tại Trung tâm Y tế Hòa Vang.

11. Bệnh nhân số 1006: N.T. T. N – Nữ (1972, tổ 2 thị trấn Châu Ổ, H. Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) – Nông dân

Tiền sử dịch tễ trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Khoảng đầu tháng 7, bệnh nhân đưa chồng T.V.T đến khám (u bàn chân trái) và nhập viện điều trị tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng. Khoảng ngày 22/7, 23/7 (không nhớ rõ ngày), vào buổi trưa, bệnh nhân cùng chồng đón xe taxi của hãng Vinasun (không nhớ biển số xe) đến khám tại Bệnh viện Đà Nẵng, sau đó chồng bệnh nhân nhập viện vào Khoa Ngoại chấn thương. Từ ngày 24/7 đến 28/7, bệnh nhân chỉ ở tại Khoa Ngoại chấn thương, Bệnh viện Đà Nẵng, chăm sóc chồng, không đi đến nơi khác. Ngày 29/7, tại Bệnh viện Đà Nẵng, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 1) và có kết quả xét nghiệm (-) với vi rút SARS-CoV-2. Từ ngày 30/7 đến 03/8 bệnh nhân và chồng tiếp tục được cách ly tại phòng thuộc Khoa Ngoại chấn thương, Bệnh viện Đà Nẵng, tiếp xúc với 07 người cùng phòng (không nhớ rõ tên). Khoảng 15 giờ ngày 04/8, bệnh nhân cùng với chồng và 01 bệnh nhân khác được xe cấp cứu chuyển cách ly tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng. Tại đây, bệnh nhân cùng chồng được cách ly tại phòng cùng với một số người trong đó có các bệnh nhân chuyển đến từ Bệnh viện Đà Nẵng. Từ ngày 05/8 đến 14/8, bệnh nhân được cách ly và chăm sóc chồng tại phòng thuộc khu cách ly của Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng.

Lịch trình cụ thể 3 ngày trước khi bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm

Từ ngày 15/8 đến 17/8, bệnh nhân tiếp tục được cách ly và chăm sóc chồng tại phòng thuộc khu cách ly của Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng. Ngày 18/8, tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, bệnh nhân được lấy mẫu dịch hầu họng (lần 2) gửi đến Bệnh viện Phổi Đà Nẵng và có kết quả xét nghiệm nghi ngờ với vi rút SARS-CoV-2. Ngày 19/8, Bệnh viện Phổi Đà Nẵng gửi mẫu xét nghiệm của bệnh nhân đến Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP Đà Nẵng để xét nghiệm khẳng định và tối cùng ngày có kết quả xét nghiệm (+) với vi rút SARS-CoV-2. Hiện tại, bệnh nhân được cách ly và điều trị tại Bệnh viện Phổi Đà Nẵng.

Có Nên Sử Dụng Nhân Sâm Khi Đang Mắc Bệnh Gút Không ?

Ngày nay, nhân sâm được dùng để điều trị một số bệnh và bồi bổ sức khỏe. Tuy nhiên, một số bệnh nhân bị gút có thắc mắc: Bị gút dùng sâm có tốt không và phải tránh những thực phẩm gì khi dùng nhân sâm?

Nếu người bệnh gút là một trong số người sau thì không nên dùng nhân sâm:

1. Người khỏe mạnh bình thường.

2. Phụ nữ mang thai.

3. Trẻ em (từ mới đẻ đến 14 tuổi) .

4. Người đang bị táo bón.

5. Viêm loét dạ dày, đau dạ dày.

6. Đau bụng do hàn.

7. Rối loạn tiêu hóa (khó tiêu, đầy bụng, trướng bụng).

10. Viêm túi mật, sỏi mật.

12. Tiêu chảy.

14. Giãn phế quản.

15. Viêm phế quản.

17. Ngoại cảm (phong hàn, phong nhiệt, phong ôn).

18. Cao huyết áp.

19. Xơ mỡ động mạch.

20. Bệnh tự miễn (vẩy nến, viêm khớp phong thấp, luput ban đỏ, cứng bì…).

21. Người đang dùng thuốc chống huyết khối (warfarin…).

22. Người bị di tinh, xuất tinh sớm.

Các thứ cấm dùng khi uống thuốc có nhân sâm:

Củ cải (các loại trắng, đỏ); Đậu đen; nước chè (trà); các loại hải sản. Một số thầy thuốc Đông y khám bệnh kê đơn cho người bệnh, trong đơn thuốc có vị nhân sâm, nhưng lại quên không dặn phải kiêng các thứ nêu trên trong thời gian dùng thuốc, làm cho nhân sâm mất tác dụng.

Giải độc nhân sâm: cho nạn nhân ăn củ cải đồ chín hoặc giã nát củ cải rồi nấu chín với 1 ít nước (200g củ cải tươi + 100ml nước) cho ăn.

– Chỉ dùng nhân sâm sau khi được thầy thuốc bắt mạch kê đơn và nhớ các thứ cấm dùng khi uống thuốc có nhân sâm.

– Không dùng nhân sâm sau khi ăn vào buổi tối.

Nhân sâm có tốt cho người bệnh gút không?

Bệnh gút xảy ra do nồng độ acid uric trong máu. Khi nồng độ acid uric cao nếu không được điều trị, các tinh thể uric tạo thành trong cơ thể tích tụ trong các khớp dẫn đến phá hủy khớp. Nó cũng dẫn đến sự hình thành của sỏi thận, cản trở hoạt động của thận. Nhân sâm kích thích sự hấp thụ thực phẩm. Nhân sâm giúp hấp thu tối đa dưỡng khí và chất dinh dưỡng của máu và tăng cường lưu thông máu trong cơ thể. Nhân sâm là một loại thảo dược tuyệt vời chống đau viêm khớp và giúp trẻ hóa cơ thể. Nhân sâm cung cấp cho cơ thể sức mạnh cần thiết hơn và thư giãn giúp bệnh nhân ít mệt mỏi. Nhân sâm hỗ trợ rất tốt cho bệnh nhân gút song không phải là giải pháp triệt để để chữa gút. Cách hiệu quả nhất chữa gút là kiêng thực phẩm giàu chất đạm như thịt chó, nội tạng, hải sản, bia rượu.

THUỐC NAM CHỮA GÚT CỦA LƯƠNG Y LỤC XUÂN ÚT

Để giúp hỗ trợ mang lại hiệu quả tốt nhất. Bệnh nhân gút nên lựa chọn cho mình những sản phẩm thảo dược tự nhiên những vị thuốc chữa bệnh gút an toàn hiệu quả khi sử dụng lâu dài, điển hình như sản phẩm thuốc đông y gia truyền của lương y Lục Xuân Út được sản xuất hoàn toàn bằng nguyen liệu tự nhiên, tăng cường chức năng thận, giảm các cơn đau và phòng ngừa tái phát các cơn Gút cấp. Tác dụng có thể khác nhau tùy vào cơ địa của người dùng.

MỌI THÔNG TIN VUI LÒNG LIÊN HỆ

Đ/c: Số 54F Vũ Trọng Phụng – Thanh Xuân – Hà Nội

Điện Thoại: 0963.015.446 – 02439.168.666

Người mắc bệnh gút có nên sử dụng trứng và sữa hay không ?, Những sai lầm kinh điển trong việc điều trị bệnh gút mà nhiều người đang mắc phải