Top 4 # Xem Nhiều Nhất Triệu Chứng Của Tăng Huyết Áp Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Mgwbeautypageant.com

Triệu Chứng Tăng Huyết Áp

TÌM HIỂU VỀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

Hiện nhiều người vẫn chủ quan cho rằng khi có triệu chứng như bồn chồn lo lắng, đổ mồ hôi, khó ngủ và mặt thường bị đỏ mới cần điều trị tăng huyết áp. Đó là quan niệm sai lầm Sở dĩ bệnh tăng huyết áp được mệnh danh là “căn bệnh giết người thầm lặng” vì nó thường không có triệu chứng rõ ràng và rất khó phát hiện.

Chủ quan về huyết áp và đợi đến khi có triệu chứng mới chữa trị đồng nghĩa với việc bạn đang đánh cược tính mạng của mình. Tất cả mọi người đều cần phải kiểm tra huyết áp và ngăn ngừa bệnh tăng huyết áp ngay từ giai đoạn đầu.

Một số triệu chứng gián tiếp

Bạn không nên tự đánh giá triệu chứng và tự chẩn đoán tình trạng tăng huyết áp tại nhà. Một số triệu chứng sau không nhất thiết nói lên rằng bạn đang bị tăng huyết áp, tuy nhiên, bạn nên đến ngay cơ sở y tế hoặc chuyên gia y tế để kiểm tra sức khỏe nếu thấy cơ thể có những dấu hiệu sau:

Triệu chứng của cơn tăng huyết áp

Thông thường các triệu chứng chỉ xuất hiện khi huyết áp của bạn đột ngột tăng cao một cách nguy hiểm (huyết áp tâm thu ở mức 180 hoặc cao hơn HAY huyết áp tâm trương ở mức 110 hoặc cao hơn). Tình trạng này được gọi là cơn tăng huyết áp (hypertensive crisis). Trong trường hợp cơn tăng huyết áp, người bệnh cần được điều trị y tế ngay lập tức.

Ngoài mức huyết áp tăng cao đột ngột, cơn tăng huyết áp còn khiến người bệnh có những triệu chứng như:

Nhóm đối tượng có nguy cơ bị tăng huyết áp

Vì tăng huyết áp là căn bệnh không có triệu chứng nên cách xác định hiệu quả nhất là bạn nên đến khám ở cơ sở hay chuyên gia y tế để được đo huyết áp chính xác.

Một số nhóm đối tượng có nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp cao hơn bình thường, do đó nên thận trọng hơn.

Các Triệu Chứng Ban Đầu Của Tăng Huyết Áp

Tăng huyết áp hay còn gọi là cao huyết áp là 1 trong những bệnh phổ biến và đang có xu hướng gia tăng và trẻ hóa. Do vậy, mỗi chúng ta cần có kiến thức cơ bản về căn bệnh này nhằm phát hiện sớm, kiểm soát bệnh và ngăn ngừa biến chứng.

Các triệu chứng ban đầu của tăng huyết áp

Đau nhức đầu: thường đau theo cơn, đặc biệt khi căng thẳng, lao động nặng, đau căng đầu

Nóng người, đỏ bừng mặt

Hoa mắt, chóng mặt có thể kèm buồn nôn, nôn

Hồi hộp trống ngực, nhịp tim nhanh, hốt hoảng

Ù tai: thường ù tai kiểu nghe thấy mạch đập

Suy giảm thị lực

Nếu thấy có các triệu chứng trên bạn cần bình tĩnh, tránh hốt hoảng, nằm nghỉ ngơi, kiểm tra huyết áp và đến cơ sở y tế để được bác sĩ chẩn đoán và điều trị.

Biến chứng thường gặp của tăng huyết áp

Nếu bạn được chẩn đoán tăng huyết áp thì bạn cần kiểm soát tốt huyết áp bằng việc dùng thuốc và chế độ sinh hoạt nhằm tránh các biến chứng như sau:

Các biến chứng về não:

Tai biến mạch máu não:

Bệnh nhân tăng huyết áp mạch máu thường xơ vữa, giảm sự chun giãn đàn hồi , khi đó huyết áp tăng cao thì áp lực trong lòng mạch lại càng lớn. mạch máu não không chịu nổi áp lực dẫn tới vỡ hoặc nhồi máu não gây tình trạng liệt nửa người hoặc liệt hoàn toàn, nặng có thể dẫn tới tử vong.

Đột quỵ:

Bệnh nhân tăng huyết áp biến chứng nguy hiểm và thường gặp nhất là đột quỵ, nguy cơ tử vong cao nếu không được cấp cứu kịp thời hoặc bệnh nhân phải sống chung với những di chứng nặng nề như liệt, lú lẫn, hôn mê sống thực vật…. bệnh nhân tăng huyết áp cần chú ý phòng tránh đột quỵ bằng việc phòng các yếu tố bất lợi dễ dẫn tới đột quỵ não như: tắm nước lạnh đột ngột, thay đổi tư thế đột ngột, ra ngoài trời buổi sáng sớm…

Thiếu máu não:

Tăng huyết áp làm hẹp động mạch cảnh, động mạch thân nền cung cấp máu nuôi não dẫn tới giảm lượng máu não gây thiếu máu não, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, có khi bất tỉnh.

Biến chứng thận:

Tăng huyết áp lâu ngày là nguyên nhân gây suy thận. vì vậy bệnh nhân cần được kiểm tra chức năng thận định kỳ

Biến chứng mắt:

Huyết áp tăng cao làm tổn thương võng mạc mắt, làm xuất huyết võng mạc, phù đĩa thị giác gây giảm thị lực, nặng có thể dẫn tới mù lòa.

Biến chứng về tim mạch:

Biến chứng mạch vành: Tăng huyết áp lâu ngày dẫn tới hình thành mảng xơ vữa động mạch và làm hẹp mạch vành. Khi tình trạng hẹp nhiều bệnh nhân thường xuyên có biểu hiện các cơn đau thắt ngực ổn định.

Đau kiểu bóp nghẹt vùng ngực trái, đau lan lên vai, hàm , cánh tay đến ngón út tay trái, cơn đau ngắn, thường xuất hiện khi gắng sức, căng thẳng, leo cầu thang với tần suất và thời gian đau tăng dần. và thuyên giảm khi nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc giãn mạch.

Nếu mảng xơ vữa nứt ra đi theo dòng máu tới mạch vành, tạo huyết khối làm tắc mạch vành khiến bệnh nhân có cơn nhồi máu cơ tim cục bộ. lúc này bệnh nhân có biểu hiện đau ngực trái dữ dội, kéo dài trên 15 phút, đau bóp nghẹt, đau xuyên sau lưng phía sau xương ức. lan lên vai trái, hàm dưới và cánh tay, ngón út bên trái. Bệnh nhân cần được cấp cứu kịp thời bởi nguy cơ tử vong rất cao.

Biến chứng suy tim: tăng huyết áp lâu ngày dẫn tới cơ tim phải làm việc nhiều hơn dẫn tới cơ tim phì đại, nặng dẫn tới suy tim.

Điều trị tăng huyết áp

Mục tiêu điều trị: kiểm soát huyết áp ổn định, tránh biến chứng

Ngoài việc tuân thủ thuốc huyết áp hàng ngày, bệnh nhân cần thay đổi lối sống:

Giảm mặn: lượng muối cung cấp 1 ngày dưới 1 thìa cà phê

Tránh thức khuya, dậy sớm bởi sáng sớm là thời điểm dễ dẫn tới đột quỵ, bệnh nhân nên thức dậy và ra ngoài trời khi có nắng ấm.

Không tắm lạnh đột ngột: tránh dội thẳng từ đỉnh đầu, tắm đầu và thân người cùng lúc

Tập luyện thể dục như đi bộ, bơi lội, khí công dưỡng sinh, yoga 30 phút một ngày

Không sử dụng chất kích thích, rượu, thuốc lá, đồ uống có ga, đồ hộp chế biến sẵn

Nên ăn các thực phẩm tốt cho tim mạch như bưởi, nấm linh chi, chè hoa cúc, nước sắc cỏ xước để ổn định huyết áp.

Tăng huyết áp là bệnh lý nguy hiểm, được mệnh danh “kẻ giết người thầm lặng” bởi bệnh thường diễn biến âm thầm đôi khi không có triệu chứng nhưng lại gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho não, mắt, thận và tim nếu không được kiểm soát tốt. Do vậy, mỗi chúng ta cần có kiến thức cơ bản về căn bệnh này nhằm phát hiện sớm, kiểm soát bệnh và ngăn ngừa biến chứng.

Hậu Quả Của Tăng Huyết Áp

Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ chủ yếu của bệnh mạch vành và tai biến mạch máu não. Đây là các biến chứng hay gặp và có tỷ lệ tử vong cao hoặc để lại di chứng nặng nề như mất ý thức, liệt nửa người… làm mất khả năng lao động, thậm chí cần được chăm sóc và phục vụ lâu dài.

THA còn gây các biến chứng như suy tim, bệnh mạch máu ngoại vi, suy thận, xuất huyết võng mạc và tổn thương thị giác…

Ở Việt Nam, tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ chính dẫn đến các biến cố tim mạch nặng nề như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận và mù lòa…Trong một nghiên cứu của Nguyễn Văn Đăng và cộng sự năm 1996 cho thấy THA là nguyên nhân chính (chiếm 59,3% các nguyên nhân) gây ra tai biến mạch máu não. Ước tính có khoảng 15.990 người bị liệt, tàn phế, mất sức lao động do tai biến mạch máu não hàng năm. Điều tra dịch tễ học suy tim và một số nguyên nhân chính tại các tỉnh phía bắc Việt Nam năm 2003 do Viện Tim mạch phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới thực hiện cho thấy nguyên nhân hàng đầu gây suy tim tại cộng đồng là do tăng huyết áp (chiếm 10,2%), sau đó là do bệnh van tim do thấp (0,8%).

Trong năm 2012, gánh nặng bệnh tật (DALYs) do các bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ lớn nhất (13,4%) trong tổng gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam. Đột quỵ, nhồi máu cơ tim và bệnh tim do tăng huyết áp là 3 trong số 20 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Theo kết quả nghiên cứu từ giám sát tử vong dựa trên chọn mẫu điểm toàn quốc năm 2009, tử vong do các bệnh mạch máu não chiếm hàng đầu (ở nam và nữ tương đương là 16,6% và 18% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân); tử vong do thiếu máu cơ tim ở nam và nữ tương ứng là 3,7% và 3,5% trong tổng số tử vong. Năm 2011 có 112.600 ca tử vong do tai biến mạch máu não, chiếm tới 21,7% tổng số tử vong. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới năm 2014, các bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ tử vong lớn nhất (33%) trong tổng số tử vong do các nguyên nhân. Điều này có nghĩa là cứ 10 trường hợp tử vong thì có 3 trường hợp do nguyên nhân bệnh tim mạch. Các bệnh động mạch vành tim và tai biến mạch máu não là các bệnh tim mạch phổ biến và nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao hoặc để lại di chứng nặng nề như mất ý thức, liệt nửa người… cần phải điều trị và chăm sóc lâu dài. Chi phí điều trị cho các bệnh nói trên là rất lớn do phải điều trị dài ngày (hầu như suốt quãng đời còn lại), thuốc và phương tiện kỹ thuật đắt tiền, ngoài ra còn phải kể đến chi phí gián tiếp do người nhà phải chăm nuôi… Nhìn chung, bên cạnh việc ảnh hưởng tới sức khỏe và giảm chất lượng cuộc sống thì thiệt hại về kinh tế do bệnh không lây nhiễm nói chung và các bệnh tim mạch nói riêng là rất lớn cho cả bản thân người bệnh, gia đình và xã hội.

TS. BS. Đỗ Thị Phương Hà – Viện Dinh dưỡng Quốc gia

Hậu Quả Của Tăng Huyết Áp Đến Não Bộ

Tăng huyết áp hay huyết áp cao là kẻ giết người thầm lặng. Tình trạng tăng huyết áp thường xuyên dễ dẫn đến nhiều bệnh lý nguy hiểm thậm chí là nguy hiểm đến tính mạng. Tăng huyết áp gây ảnh hưởng đến tim, thận, mắt, hệ thần kinh và nghiệm trọng nhất là não bộ của người bệnh.

1. Tăng huyết áp là gì?

Huyết áp là lực của dòng máu tác động lên thành động mạch, gồm có huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Huyết áp bình thường có chỉ số tâm thu (huyết áp tối đa) < 130 mmHg, tâm trương (huyết áp tối thiểu) < 85 mmHg. Khi huyết áp ≥ 140/90 mmHg được gọi là tăng huyết áp. Tình trạng tăng huyết áp đôi khi không có triệu chứng hay dấu hiệu báo trước, có thể đến đột ngột và gây ra rất nhiều nguy hiểm cho người bệnh.

Một số nguyên nhân dẫn đến tăng huyết áp bao gồm:

– Đường kính động mạch bị hẹp

– Thể tích máu lớn hơn bình thường

– Tim đập quá nhanh và mạnh so với bình thường

– Sử dụng một số thuốc làm tăng huyết áp

– Không xác định được nguyên nhân; thường gặp ở người từ 40 – 50 tuổi trở lên.

– Người lớn tuổi; béo phì; tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp; người có khuynh hướng huyết áp cao hơn bình thường:135-139/85-89 mmHg sẽ là những người dễ bị tăng huyết áp.

2. Tăng huyết áp gây ảnh hưởng não

– Tình trạng tăng huyết áp nếu không được điều trị sẽ khiến tim làm việc nặng nề, mệt mỏi, áp lực tác động lên thành mạch máu lớn, làm tăng nguy cơ các bệnh tim mạch, đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận, mù lòa mắt… Cụ thể, huyết áp cao ảnh hưởng đến não bộ của người bệnh. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ xuất huyết não ở người bệnh gấp 10 lần người không bị cao huyết áp. Khi huyết áp chỉ hơi cao so với bình thường, người bệnh vẫn có nguy cơ cao bị đột quỵ.

– Thực tế cho thấy đến 80% các cơn đau tim, đột quỵ là do tăng huyết áp gây ra. Tình trạng tăng huyết áp khiến các mạch máu nhỏ trong não suy yếu và vỡ. Nếu gián đoạn lưu lượng máu đến não sẽ dẫn đến tình trạng thiếu máu não. Cơ thể sẽ xuất hiện các triệu chứng như hoa mắt, chóng mặt. Nếu tình trạng bệnh nặng, kéo dài sẽ khiến tăng nguy cơ suy giảm nhận thức nhẹ, mất trí nhớ, đứt mạch máu não là nguyên nhân dẫn đến bại liệt, xuất huyết não. Nguy cơ nghiêm trọng nhất của người bệnh tăng huyết áp là tử vong nếu không được cấp cứu điều trị kịp thời.

Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người trẻ có huyết áp cao trên ngưỡng bình thường có nguy cơ đối mặt với nguy cơ não bị co rút lại. Đối với người bị cao huyết áp, sẽ có những thay đổi trong chất xám não. Trong khi đó chất xám não có vai trò quan trọng với não bộ, vì chúng chứa hầu hết các tế bào thần kinh, có vai trò thiết yếu với chức năng thần kinh. Khi chất xám bị ảnh hưởng thay đổi là gây ra nguy cơ tăng đột quỵ, mất trí nhớ sớm hơn bình thường so với người có huyết áp bình thường.

CN. Vũ Văn Trình (t/h)