Top 4 # Xem Nhiều Nhất Xử Lý Bệnh Quai Bị Mới Nhất 3/2023 # Top Like | Mgwbeautypageant.com

Phòng Tránh Và Xử Lý Kịp Thời Bệnh Quai Bị

Cảnh giác với biến chứng khi mắc bệnh quai bị

“Bệnh quai bị là bệnh lành tính, có thể tự khỏi từ 7-10 ngày, tuy nhiên, nếu không có cách phòng tránh và xử lý kịp thời, có thể dẫn tới những biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe”, chúng tôi Vũ Mạnh Cường cảnh báo.

Bệnh nhân T.V.A (28 tuổi, ở Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy) vào Bệnh viện E trong tình trạng sốt, sưng đau góc hàm 2 bên, tinh hoàn bên trái sưng đau. Các bác sĩ ở khoa Bệnh nhiệt đới, Bệnh viện E tiến hành khám lâm sàng và các xét nghiệm cần thiết, xác định bệnh nhân A bị quai bị có biến chứng viêm tinh hoàn bên trái. Qua siêu âm, các bác sĩ phát hiện dịch trong màng tinh hoàn, tinh hoàn bên trái có kích thước to hơn bình thường. Được biết, 5 ngày trước đó, bệnh nhân có tiếp xúc với một người bạn mắc quai bị. Một ngày sau, bệnh nhân có biểu hiện sốt nhẹt, sưng đau góc hàm bên phải, sau đó bệnh lan xuống tinh hoàn bên trái. Nhưng bệnh nhân tự điều trị tại nhà không khỏi.

Còn bệnh nhân Đ.T.V (63 tuổi, ở Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm) cũng nhập viện do mắc quai bị từ 5 ngày trước đây. Bệnh nhân Đ.T.V nhập viện trong tình trạng sưng đau góc hàm bên phải, sau đó lan sang bên trái. Bác sĩ tiến hành siêu âm, tuyến nước bọt mang tai 2 bên có kích thước to hơn bình thường. Kết quả xét nghiệm men tụy trong máu (amylase) tăng cao gấp 2,5 lần so với bình thường. Khai thác tiền sử bệnh án cho thấy, bệnh nhân không rõ nguồn lây từ đâu, vì người thân trong gia đình không có ai mắc bệnh. Bệnh nhân chưa tiêm vắc xin phòng bệnh quai bị.

Tiêm vắc xin phòng bệnh quai bị vẫn là biện pháp tốt nhất

Theo các chuyên gia y tế, bệnh quai bị ở người lớn tuy ít gặp, nhưng thường nặng và có nhiều biến chứng hơn ở trẻ em. Người bệnh có thể gặp các biến chứng sau: Viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn với tỷ lệ 20-35% ở người sau tuổi dậy thì mắc bệnh quai bị, thường xảy ra sau đợt viêm tuyến mang tai khoảng 7-10 ngày nhưng cũng có thể xuất hiện trước hoặc đồng thời. Tinh hoàn sưng to, đau, mào tinh căng. Tình trạng viêm và sốt kéo dài 3-7 ngày, sau đó khoảng 50% số trường hợp tinh hoàn teo dần và có thể dẫn đến tình trạng giảm số lượng tinh trùng và vô sinh. Biến chứng gây viêm buồng trứng, có tỷ lệ 7% ở nữ sau tuổi dậy thì, ít khi dẫn đến vô sinh. Đặc biệt, bệnh quai bị ở phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây sẩy thai hoặc sinh con dị dạng, trong 3 tháng cuối của thai kỳ có thể sinh non hoặc thai chết lưu.

Biến chứng gây nhồi máu phổi, là tình trạng một vùng phổi bị thiếu máu nuôi dưỡng, có thể tiến đến hoại tử mô phổi. Nhồi máu phổi là biến chứng có thể xảy ra sau viêm tinh hoàn do quai bị vì hậu quả của huyết khối từ tĩnh mạch tiền liệt tuyến. Biến chứng gây viêm tụy, có tỷ lệ 3% – 7%, là một biểu hiện nặng của quai bị. Bệnh nhân bị đau bụng nhiều, buồn nôn, có khi tụt huyết áp. Các tổn thương thần kinh: Viêm não có tỷ lệ 0,5%, bệnh nhân có các hiện tượng như: thay đổi tính tình, bứt rứt, khó chịu, nhức đầu, co giật, rối loạn tri giác, rối loạn thị giác, đầu to do não úng thủy. Tổn thương thần kinh sọ não dẫn đến điếc, giảm thị lực, viêm tủy sống cắt ngang, viêm đa rễ thần kinh. Ngoài ra, còn có một số biến chứng nguy hiểm khác như viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến lệ, viêm thần kinh thị giác (gây giảm thị lực tạm thời), viêm thanh khí phế quản, viêm phổi, rối loạn chức năng gan, xuất huyết do giảm tiểu cầu…

ThS.BS. Vũ Mạnh Cường khuyến cáo, cách phòng và điều trị bệnh quai bị hiệu quả: Đối với mọi bệnh nhân: Cách ly bệnh nhân 2 tuần kể từ lúc phát hiện bệnh, vệ sinh răng miệng, ăn những thực phẩm dễ tiêu hoá, giảm đau tại chỗ bằng cách đắp ấm vùng sưng, giảm đau toàn thân và hạ sốt bằng paracetamol. Trường hợp viêm tinh hoàn: Mặc quần lót nâng tinh hoàn để giảm đau, nghỉ ngơi là chủ yếu, hạn chế vận động.

Đến nay, tiêm vắc xin phòng bệnh quai bị vẫn là biện pháp tốt nhất. Khi tiêm vắc xin có tác dụng kích thích cho trẻ em sản sinh kháng thể kháng quai bị kháng thể đạt mức độ cao nhất sau khi tiêm chủng 6 – 7 tuần. Nếu bắt đầu tiêm từ 9 tháng tuổi: tiêm 3 lần, lần 1 lúc 9 tháng tuổi, lần 2 sau lần 1 sáu tháng, lần 3 khi trẻ từ 4-12 tuổi.

Nếu bắt đầu tiêm từ 12 tháng tuổi: tiêm 2 lần, lần 1 lúc 12 tháng tuổi lần 2 từ 4-12 tuổi. Tiêm chủng khẩn cấp được chỉ định cho trẻ từ 12 tháng tuổi, trẻ vị thành niên và người lớn nếu đã có tiếp xúc với bệnh nhân quai bị nhưng chưa có tiền sử mắc quai bị và chưa được tiêm chủng theo lịch phòng bệnh quai bị.

Cách Xử Lý Khi Bị Sốt Xuất Huyết

Cách xử lý khi bị sốt xuất huyết

Gần như năm nào bệnh sốt xuất huyết cũng xuất hiện ở nước ta, nhất là từ tháng 5 đến tháng 11. Ngoài lý do chưa có vắc-xin phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, còn do người dân còn chủ quan hoặc chưa hiểu nhiều về bệnh sốt xuất huyết.

Đặc điểm của bệnh sốt xuất huyết

Thứ nhất, virut Dengue là tác nhân gây nên bệnh sốt xuất huyết. Bệnh sốt xuất huyết xảy ra quanh năm nhưng gặp nhiều nhất là vào các tháng mùa mưa (từ tháng 5 cho đến tháng 11 trong năm).

Thứ hai, vai trò làm lây lan bệnh sốt xuất huyết là muỗi. Có hai loại muỗi truyền bệnh SXH là muỗi Aedes aegypti (muỗi vằn) và muỗi Aedes albopictus (muỗi hổ châu Á). Đặc điểm của loài muỗi vằn, sống chủ yếu ở thành thị, còn muỗi hổ châu Á gặp chủ yếu ở nông thôn và miền rừng núi. Tuy vậy, do đặc điểm của nước ta trong quá trình đang đô thị hóa nhanh cho nên khó phân biệt ranh giới giữa thành thị và nông thôn. Chúng đều sinh sản, phát triển ở nơi ao tù nước đọng, chum vại, lu, lọ hoa, lốp xe hỏng, vỏ dừa đựng nước sạch hoặc nước mưa. Vì vậy, các loại muỗi này đều có mặt cả ở nông thôn và cả ở thành thị, cùng mang mầm bệnh virut Dengue gây bệnh SXH truyền bệnh cho người. Hai loại muỗi này hoạt động cả ngày lẫn đêm, nhất là sáng sớm và chiều tối, chúng hoạt động cả trong nhà và cả ngoài trời. Và con đẻ của hai loại muỗi này là bọ gậy (loăng quăng).

Thứ ba, đối tượng để chúng ta hướng đến tiêu diệt nhằm phòng và chống bệnh sốt xuất huyết có hiệu quả nhất là muỗi và bọ gậy, chứ không phải mục tiêu là diệt virut Dengue.

Thứ tư, ngoài việc diệt muỗi và bọ gậy, việc phòng bệnh còn phải tránh muỗi đốt. Thứ năm, cần nhận biết sớm như thế nào là bệnh sốt xuất huyết để theo dõi, chăm sóc người mắc bệnh thể nhẹ tại gia đình cho có hiệu quả, tránh xảy ra sốc nguy hiểm cho tính mạng người bệnh và đồng thời cả người bệnh và người lành đều phải tránh để muỗi đốt làm lây lan mầm bệnh.

Nhận biết và cách xử lý khi bị sốt xuất huyết tại gia đình như thế nào?

Thứ nhất, cần lưu ý, nếu một người đang ở trong vùng có dịch sốt xuất huyết hoặc từ vùng dịch về, thấy sốt cao đột ngột, đau mỏi cơ khớp, kèm theo da sung huyết, phát ban hoặc có kèm thêm chảy máu cam, chảy máu chân răng, nên nghĩ đến bị mắc bệnh sốt xuất huyết. Đối với trẻ em, nếu vừa có các triệu chứng nêu trên, kèm theo đau bụng càng phải hết sức chú ý đề phòng sốt xuất huyết bị sốc.

Thứ hai, khi đã có dấu hiệu sốc xảy ra đặc biệt là trẻ em, cần nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời.

Thứ ba, khi nghi là sốt xuất huyết nhưng chưa kịp đưa người bệnh đi khám được (vì một lý do nào đó), cần làm giảm thân nhiệt bằng cách lau mát, đặc biệt là trẻ nhỏ, ở các vùng có động mạch lớn đi qua như trán, nách, bẹn (không được chườm lạnh, nước đá). Nếu đã lau mát nhiều lần, liên tục mà thân nhiệt không thuyên giảm, vẫn trên 38 độ, có thể dùng thuốc paracetamol uống (cần dùng loại đơn chất), liều lượng trung bình 10mg/kg cân nặng, cứ mỗi 6 giờ cho uống một lần nếu thân nhiệt chưa giảm. Tuyệt đối không dùng thuốc aspirin hoặc biệt dược có chứa aspirin, bởi vì, loại thuốc này sẽ làm cho bệnh nhân chảy máu nặng thêm có thể đưa đến tử vong. Lý do là khi đã bị xuất huyết mà dùng thuốc aspirin, càng làm cho rối loạn đông máu tăng lên dẫn đến máu khó đông, gây ra chảy máu nặng kéo dài và không cầm được.

Thứ tư, khi bị sốt xuất huyết sẽ làm mất nước, chất điện giải do sốt và thoát huyết tương cho nên rất cần được bù đắp sự thiếu hụt đó, bằng cách uống dung dịch oresol (ORS) hoặc nước gạo rang, nước ép hoa quả, sữa. Với trẻ đang bú mẹ, cần tăng thời gian và số lần cho bú.

Cần lưu ý rằng, đối với trẻ em khi nghi ngờ bị sốt xuất huyết phải theo dõi chặt chẽ và rất cần được đưa đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí thích hợp.

Theo Sức khỏe & Đời sống

GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN DỊCH SỐT XUẤT HUYẾT

* Để đạt được mục tiêu tiêu diệt muỗi và bọ gậy có hiệu quả cao nhất cần có chiến dịch tuyên truyền rộng khắp trong toàn dân về tác hại của bệnh sốt xuất huyết và các biện pháp phòng chống, đặc biệt ở những địa phương đang có dịch sốt xuất huyết bằng mọi hình thức có thể (loa, đài phát thanh phường, xã, tờ rơi, họp tổ dân phố, thôn, xóm, các đoàn thể).

* Y tế địa phương là đơn vị chủ trì nhưng làm thế nào để các ban, ngành tham gia tích cực mới hy vọng đạt kết quả cao nhất.

* Cần phổ biến cho toàn dân biết các biện pháp diệt muỗi bằng mọi biện pháp từ dân gian cho đến dùng các loại hóa chất như phun thuốc diệt muỗi, dùng hương muỗi để tiêu diệt hoặc xua đuổi muỗi…

* Cần thay nước ở các lọ hoa hàng ngày, cần phải đậy các chum vại, lu, bể chứa nước thật kín để muỗi không vào đẻ trứng. Các bể chứa nước dùng trong sinh hoạt có thể thả các loại cá có khả năng ăn bọ gậy như cá chọi, cá vàng, cá rô.

* Cần khơi thông cống rãnh xung quanh nhà ở, ngõ xóm để diệt bọ gậy và loại bỏ chỗ để muỗi đẻ trứng. Để ngăn chặn không cho muỗi đốt cần phải nằm màn một cách tuyệt đối ngay cả khi nằm nghỉ hoặc ngủ ban ngày (cả người lớn và trẻ em).

* Ở địa phương đang có dịch sốt xuất huyết, buổi chiều tối nên xua muỗi bằng hương muỗi để về đêm hạn chế muỗi. Học sinh, mỗi buổi tối lúc học bài hoặc người lớn ngồi làm việc, cần mặc quần dài, đi tất.

Xử Lý Nhanh Khi Bị Tụt Huyết Áp

Triệu chứng nào cho biết tụt huyết áp?

Nhiều người bị tụt huyết áp thường có triệu chứng choáng váng, chóng mặt, mặt xanh khó chịu bứt rứt trong người.

Thường các triệu chứng này hay đi kèm với các triệu chứng của các bệnh nên gây tụt huyết áp như: Tiêu chảy, đau bụng, sốt cao, lạnh run hay các bệnh mạn tính khác như viêm phế quản mạn, xơ gan, suy tim, ung thư, tiểu đường v.v…

Các nguyên nhân gây tụt huyết áp

– Do bẩm sinh: số người huyết áp thấp chiếm 7%, thường gầy yếu nhưng sống hoàn toàn bình thường, không cảm thấy huyết áp thấp, song khi huyết áp tăng lên mức bình thường (120/80) thì lại rất khó chịu.

– Nguyên nhân khác: Các nguyên nhân gây tụt huyết áp có thể là một bệnh cấp tính gây mất dịch trong cơ thể như tiêu chảy nhiều, ói mửa nhiều, say rượu v.v…

Cần phải lưu ý kỹ vì có rất nhiều triệu chứng giống như vậy nhưng bệnh nhân lại bị cao huyết áp, nên vai trò của việc đo huyết áp là rất quan trọng. Chỉ được phép kết luận là tụt huyết áp khi đo huyết áp tối đa 90mm thủy ngân.

Xử trí

1.Về tư thế

Khi người bệnh có dấu hiệu tụt huyết áp, tùy vào vị trí hãy nhanh chóng để người bệnh ngồi ở nơi thoáng mát hoặc đặt người bệnh nằm trên giường, đầu hơi thấp, nâng cao hai chân. (Nếu có dụng cụ đo huyết áp hãy đo huyết áp hiện tại của người bệnh để có phương pháp xử lý thích hợp)

2. Thực hiện sơ cứu

Hãy cho người bệnh uống 2 cốc nước tương đương 480ml vì uống nước giúp điều tiết huyết áp. Hoặc có thể cho người bệnh uống trà gừng, nước sâm, cà phê, nước chè đặc, ăn thức ăn đậm muối, bột tam thất, rau cần tây, nước nho…

3. Sử dụng thuốc hỗ trợ huyết áp

Khi bị bệnh huyết áp, bệnh phải lưu ý luôn mang theo hoặc dự phòng thuốc hỗ trợ huyết áp như: heptamyl, coramin,… để sử dụng khi cần thiết. Theo khải sát gần đây của Đại học Havard, sôcôla chứa nhiều flavon giúp bảo vệ thành mạch máu vì vậy sôcôla được mệnh danh là vị thuốc cấp cứu bỏ túi cho những người bị tụt huyết áp.

4. Phương pháp xoa bóp bấm huyệt

– Day huyệt thái dương: Khi xuất hiện dấu hiệu tụt huyết áp hãy dùng hai ngón tay day vào huyệt thái dương (nằm ở cuối mi mắt). Lưu ý: Đặt phần tay mềm của ngón vào đúng huyệt, cần day đi day lại với mức độ mạnh dần. Thực hiện động tác này từ 20 – 50 lần.

– Day huyệt phong trì: Huyệt phong trì nằm ở đốt xương gối giữa phần lõm dưới nơi gân cổ nổi lên. Dùng ngón tay đặt lên huyệt phong trì, bốn ngón còn lại ôm lấy đầu rồi day và bấm mạnh vào huyệt phong trì 10 lần.

– Vuốt trán: Dùng hai ngón tay vuốt từ giữa trán sang hai bên đến cuối huyệt thái dương. Lặp đi lặp lại động tác này 30 lần.

5. Căn cứ vào nguyên nhân tụt huyết áp

– Nếu nguyên nhân khiến tụt huyết áp là do bệnh nhân bị sốt hoặc tiêu chảy thì cần nhanh chóng truyền dịch theo đường tĩnh mạch.

– Trường hợp bệnh nhân mắc bệnh mãn tính mà tụt huyết áp phải uống thuốc theo bệnh mãn tính. Ví dụ: bệnh nhân bị suy tim dẫn đến tụt huyết áp cần uống thuốc trợ tim,…

6. Thói quen ăn uống điều độ

Đói bụng dẫn đến giảm hàm lượng đường máu, giảm sự đàn hồi, dẻo dai của mạch máu dẫn đến tụt huyết áp. Bởi vậy, người bị bệnh huyết áp thấp, nên lưu ý có chế độ ăn hợp lý, chia nhỏ khẩu phần ăn trong một ngày. Nên để các loại ngũ cốc, bánh quy, sữa thường trực trong túi để ăn bất cứ lúc nào cảm thấy đói để tránh bị hạ đường huyết đột ngột.

Khi Trẻ Bị Bệnh Tay Chân Miệng Cần Xử Lý Ra Sao ?

Bệnh tay chân miệng là bệnh hết sức nguy hiểm , nếu không biết cách chăm sóc sẽ ảnh hưởng rất nặng nề nhất là đối với trẻ em , việc chăm sóc trẻ bị bệnh tay chân miệng rất vất vả.

Dấu hiện trẻ bị tay chân miệng

Bệnh Tay chân miệng do Enteroovirus 71 và Coxsackievirus gây nên. Khi bị tay chân miệng, trẻ có thể có một hoặc một số các triệu chứng sau đây:

– Sốt, viêm họng, mệt mỏi.

– Các nốt rát đỏ hoặc lở loét xuất hiện trên lưỡi, nướu và bên trong má.

– Phát ban đỏ không ngứa, nhưng đôi khi phồng rộp ở lòng bàn tay, lòng bàn chây và mông.

– Bé khó chịu hay quấy khóc.

– Ăn mất ngon.

Thông thường, thời kì từ lúc nhiễm bệnh cho đến khi xuất hiện dấu hiệu và triệu chứng là 3-6 ngày. Sốt thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh tay chân miệng và bé thường sốt cao khoảng 39- 40 độ C, tiếp theo là đau họng, chảy nước bọt nhiều và thỉnh thoảng bỏ ăn và khó chịu. Và đây là giai đoạn ủ bệnh.

Loét miệng: Đó là các bóng nước có đường kính 2 – 3 mm (ở niêm mạc má, lợi, lưỡi) vỡ rất nhanh tạo thành các vết loét khiến trẻ bị tăng tiết nước bọt và thấy đau khi ăn, vì thế trẻ sẽ biếng ăn, quấy khóc.

Ở da: Xuất hiện các bóng nước từ 2 – 10mm, màu xám, hình bầu dục ở lòng bàn tay và lòng bàn chân, có thể lồi lên trên da, sờ có cảm giác cộm hay ẩn dưới da, thường ấn không đau. Bóng nước vùng mông và gối thường xuất hiện trên nền hồng ban.

Dấu hiệu toàn thân: Trong giai đoạn diễn tiến khi vi rút xâm nhập thần kinh trung ương sẽ xuất hiện triệu chứng rối loạn tri giác như lơ mơ; li bì, mê sảng, co giật…

Ngoài các dấu hiện điển hình trên, bệnh có thể biểu hiện không điển hình như: bóng nước rất ít xen kẽ với những hồng ban, một số trường hợp chỉ biểu hiện hồng ban và không có biểu hiện bóng nước hay chỉ có biểu hiện loét miệng đơn thuần. Nếu bệnh nhẹ thường sau 7 – 10 ngày trẻ hồi phục hoàn toàn. Tuy nhiên một số trường hợp sốt cao, nhiều mụn có thể gặp biến chứng nặng.

Cách chăm sóc trẻ bị bệnh tay chân miệng để bé nhanh khỏi

Cách ly bé:

Khi phát hiện bé có dấu hiệu tay chân miệng, mẹ nên đưa bé đi khám bác sĩ để xác định đúng bệnh. Nếu bé được chuẩn đoán mắc bệnh tay chân miệng thì ba mẹ cần cho bé cách ly ở trong phòng để phòng tránh lây lan tạo nên ổ dịch.

Chế độ dinh dưỡng đầy đủ:

Một chế độ dinh dưỡng hợp lý là sự lựa chọn tốt nhất để giúp bé tăng sức đề kháng và tăng cường hệ miễn dịch.

– Đối với trẻ đang bú sữa mẹ cần cho bé bú như bình thường và nên tăng số lần cho bé bú.

– Nên cho bé ăn những món bé thích.

– Thức ăn cần được làm mềm mịn, lỏng để giúp bé không bị đau miệng. Một số loại thực phẩm mẹ nên cho bé ăn bao gồm cháo, súp, sữa chua, sữa, phô mai,…

– Khi bị tay chân miệng bé có thể ăn ít hơn bình thường vì vậy mẹ cần chia nhỏ bé ăn để giúp bé ăn được nhiều hơn.

– Bổ sung dinh dưỡng cho bé bằng cách uống nước hoa quả và ăn rau xanh, trái cây để bổng sung vitamin.

– Nếu bé không muốn ăn nữa thì mẹ không nên ép buộc. Cho bé uống 1 bịch sữa hoặc pha 1 ly sữa để bù vào.

– Bé cần ăn từ 3 đến 4 bữa/ ngày. Các bữa ăn cần đầy đủ chất dinh dưỡng. Thời gian ăn cách nhau từ 3 giờ.

– Sau khi ăn cho bé súc miệng bằng nước muối.

Giữ gìn vệ sinh sạch sẽ

Khi trẻ bị tay chân miệng điều quan trọng nhất là mẹ cần giữ gìn vệ sinh cá nhân sạch sẽ cho bé.

– Tắm rửa cho bé mỗi ngày bằng nước sạch và xà phòng sát khuẩn. Mẹ nên nhẹ nhàng tắm cho bé để không làm tổn thương da, phòng tắm cần kín gió.

– Bé cần rửa tay bằng xà phòng thường xuyên để giảm bớt sự lây lan.

– Vật dụng ăn uống hàng ngày của bé nên được tiệt trùng và không sử dụng chung.

– Quần áo, đồ chơi của bé cần được sát khuẩn bằng nước sôi hoặc các dung dịch sát khuẩn.

– Mẹ hoặc người chăm sóc cho bé cần rửa tay sạch sẽ trước và sau khi tiếp xúc với bé.

Trường hợp cần đến bác sĩ

Bệnh tay chân miệng thường là bệnh nhẹ và chỉ gây ra sốt vài ngày. Các dấu hiệu và triệu chứng tương đối nhẹ. Tuy nhiên, mẹ vẫn nên đưa bé đi khám để xác định đúng bệnh và có các lời khuyên chăm sóc phù hợp.

Trong trường hợp sốt hơn 38 độ C với trẻ dưới 3 tháng tuổi và cao hơn 39 độ C với trẻ dưới 6 tháng mẹ nên đưa bé đến bác sĩ. Trong trường hợp bé không hạ sốt trong 2 ngày bé cũng cần được đưa đi viện.

Mẹ cũng cần để ý xem bé bị mất nước không? Nếu bé bị đau họng không thể uống nước hoặc ăn uống ít hơn bình thường thì cần đưa bé đi khám.

Bệnh tay chân miệng có thể có nhiều biến chứng nguy hiểm vì vậy mẹ cần để ý đến bé thường xuyên, đặc biệt khi bé ngủ.

Phòng bệnh tay chân miệng như thế nào

Hiện nay vẫn chưa có vắc-xin phòng bệnh nên cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chảy, nhất là trước và sau khi nấu ăn, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Nếu có chăm sóc trẻ thì cần lưu ý rửa tay sau mỗi lần thay tã, làm vệ sinh cho trẻ.

Vệ sinh các dụng cụ, vật dụng, đồ chơi, sàn nhà bằng nước và xà phòng, rồi khử khuẩn bằng cloramin B 5% (có thể mua tại nhà thuốc).

Đeo khẩu trang mũi miệng khi hắt hơi hoặc ho.

Ăn chín uống sôi và khử khuẩn môi trường có trẻ bị bệnh và môi trường xung quanh.

Cách ly người bệnh tại nhà cho đến khi khỏi bệnh (thường ít nhất là 7 – 10 ngày).

Điều cần lưu ý với các bà mẹ là bệnh TCM lúc đầu có thể chỉ sốt nhẹ, ho khan, nổi ban… giống như các nhiễm virut thông thường khác nhưng sau đó một số ít sẽ nguy kịch nhanh. Tốt nhất là khi có bất cứ bất thường nào dù đang mùa dịch hay không cũng nên đưa trẻ đi khám tại cơ sở y tế gần nhà để được khám chẩn đoán và điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ.