Đề Xuất 2/2023 # Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Bệnh Bạch Cầu Dạng Tủy Cấp Tính Có Loạn Sản Đa Dòng Tại Ttyt Tân Thành # Top 8 Like | Mgwbeautypageant.com

Đề Xuất 2/2023 # Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Bệnh Bạch Cầu Dạng Tủy Cấp Tính Có Loạn Sản Đa Dòng Tại Ttyt Tân Thành # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Bệnh Bạch Cầu Dạng Tủy Cấp Tính Có Loạn Sản Đa Dòng Tại Ttyt Tân Thành mới nhất trên website Mgwbeautypageant.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bạch hầu là một bệnh lây do vi khuẩn Corynebacterium diphtheria gây ra. Vi khuẩn bạch hầu hình que, đa dạng, ít di động, nhuộm Gram dương, có 3 loại khuẩn lạc nhỏ, to và trung gian (mitis, gravis, intermedius). Vi khuẩn bạch hầu tiết ra độc tố gây nhiễm độc, nhất là gây rối loạn thần kinh và tim mạch. TRIỆU CHỨNG, CHẨN ĐOÁN BỆNH BẠCH HẦU

ĐIỀU TRỊ, PHÒNG BỆNH BẠCH HẦU

GS. PTS. Nguyễn Công Khanh

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH BẠCH HẦU

Bạch hầu là một bệnh lây do vi khuẩn Corynebacterium diphtheria gây ra. Vi khuẩn bạch hầu hình que, đa dạng, ít di động, nhuộm Gram dương, có 3 loại khuẩn lạc nhỏ, to và trung gian (mitis, gravis, intermedius). Vi khuẩn bạch hầu tiết ra độc tố gây nhiễm độc, nhất là gây rối loạn thần kinh và tim mạch.

TRIỆU CHỨNG, CHẨN ĐOÁN BỆNH BẠCH HẦU

Triệu chứng lâm sàng – Thời kì ủ bệnh khoảng 5 ngày, không có biểu hiện rõ. – Thời kì khởi phát bệnh tiến triển từ từ, sốt nhẹ 38°c và đau họng. – Trẻ khó chịu, không chịu chơi. Lúc này da hơi xanh, chảy nước mũi. – Vài ngày sau trẻ tiếp tục sốt, ho, đau họng, khó nuốt, trẻ có vẻ mặt nhiễm độc, xanh tái, miệng có mùi hôi. Hạch cổ, góc hàm thường to, làm vùng cổ hai bên hơi bạnh ra, gọi là “cổ bò”. – Khám thấy họng đỏ, có giả mạc màu trắng xám dính chặt vào amidan, quanh amidan, có thể lan rộng tới vòm họng, bóc ra làm chảy máụ, giả mạc bóc ra cho vào nước không tan. – Giả mạc có thể lan rộng tới thanh quản gây ra bạch hầu thanh quản với các triệu chứng khản tiếng, ho khàn, rồi có biểu hiện khó thở thanh quản như khó thở vào, có tiếng rít thanh quản, cơ lõm khoảng trên ức và dưới ức, môi tím. – Ngoài thể bạch hầu họng còn có thể gặp bạch hầu mũi, với biểu hiện chảy mủ – máu một bên hay hai bên lỗ mũi. – Ngoài các thể trên còn có thể gặp diphtheria ở da và niêm mạc âm đạo, với biểu hiện loét ở da và niêm mạc. – Độc tố do vi khuẩn gây độc cho thần kinh và tim mạch: Liệt màn hàu, làm trẻ bị sặc, khó nuốt. Liệt cơ mắt, đặc biệt là liệt khả năng điều tiết, gây viễn thị. Liệt các chi, biểu hiện liệt này thường xuất hiện ở tuần thứ ba. Viêm cơ tim, rối loạn nhịp tim và trụy mạch; những rối loạn. này ở tim thường xảy ra từ ngày thứ 2 đến ngàv thứ 40 từ khi khởi phát, thông thường nhất ở tuần thứ hai; đây là biến chứng nặng dễ gây tử vong. Xét nghiệm chẩn đoán – Ngoáy họng, chỗ-có giả mạc giúp chẩn đoán. Nhuộm Gram, soi trực tiếp thấy trực khuẩn hình que, hình thái diphtheria. Cấy trên thạch máu Loffler, 16-48 giờ sau có thể thấy vi khuẩn mọc. – Xét nghiệm máu thấy tăng bạch cầu có hạt độc, có thể giảm tiểu cầu. – Điện tâm đồ: có thể thấy rối loạn nhịp, biểu hiện viêm cơ tim.

ĐIỀU TRỊ BỆNH BẠCH HẦU

Điều trị bệnh bạch hầu phải bắt đầu rất sớm, ngay từ khi nghi ngờ về lâm sàng, không cần chờ kết qủa xét nghiệm vi khuẩn, nhất là khi có dịch. Nên chuyển bệnh nhi tới bệnh viện gần nhất. Việc điều trị gồm: – Cách li trẻ khỏi các bệnh nhi khác tại bệnh viện trong 10-14 ngày. – Cho trẻ ăn uống đầy đủ, nếu trẻ khó nuốt nên cho ăn qua ống thông mũi-dạ dày. – Cho Penicillin G 1 triệu đơn vị/lần, ngày 2 lần, trong 10 ngày; nếu dị ứng với Penicillin, thay bằng Erythromycin 25-50mg/kg/ngày, trong 10 ngày. – Cho kháng độc tố bạch hầu: với thể nhẹ 40.000 đơn vị, với thể trung bình 60.000 đơn vị còn với thể nặng có giả mạc lan rộng 80.000 – 1.000.000 đơn vị, để trung hòa độc tộ tuần hoàn. – Luôn luôn, phải thông đường hô hấp; với thể bạch hầu thanh quản có khó thở thanh quản độ 2, cần thiết phải mở khí quản. – Với thể có liệt, cho Vitamin B1 và điều trị vật lí phục hồi chức năng. – Với thể có viêm cơ tim, rối loạn nhịp tim, phải điều trị bằng thuốc trợ tim, Prednison (xem phần Viêm cơ tim và rối loạn nhịp tim).

PHÒNG BỆNH BỆNH BẠCH HẦU

– Tiêm chủng phòng bạch hầu, thực hiện đồng thời với tiêm chủng ho gà và uốn ván, 3 lần lúc trẻ 2, 3 và 4 tháng tuổi. – Cần khám và cấy dịch hầu họng cho những người trong gia đình hay tập thể có tiếp xúc với trẻ bị bạch hầu. Với trẻ có triệu chứng sớm của bạch hầu, phải điều trị như bị bạch hầu. Với người có mang vi khuẩn bạch hầu không có triệu chứng, cho Erythromycin uống 20-30 mg/kg/ngày, chia 4 liều; hay Benzathin Penicillin G tiêm bắp 25.000 đơn vị/kg, trong 10 ngày và khám lại hằng ngày.

Bệnh Bạch Cầu Cấp Dòng Tủy

Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy là bệnh lý ác tính theo dòng của tiền chất tủy xương dòng tủy, trong đó các tế bào kém biệt hóa tích tụ trong tủy xương và tuần hoàn. Các triệu chứng xảy ra do sự vắng mặt của các tế bào trưởng thành bình thường do tủy xương sản xuất, bao gồm các bạch cầu hạt (nhạy cảm với nhiễm trùng) và tiểu cầu (nhạy cảm với xuất huyết). Hơn nữa, nếu số lượng lớn các nguyên bào tủy ác tính chưa trưởng thành lưu hành, chứng có thể xâm nhập tổ chức và hiếm khi gây rối loạn chức năng. Có các phân nhóm hình thái khác nhau (Bảng 72-1) có phần lớn các đặc điểm lâm sàng chồng chéo. Đáng chú ý là các bệnh nhân bạch cầu cấp thể tiền tủy bào (APL) (FAB M3) có xu hướng phát triển xuất huyết và đông máu nội mạch rải rác, đặc biệt trong khi cảm ứng hóa chất, do giải phóng các procoagulant từ các hạt trong bào tương.

Tỷ Lệ Mắc Và Bệnh Nguyên

BẢNG 72-1 HỆ THỐNG PHÂN LOẠI Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy b

Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy có những bất thường di truyền tái phát

Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy có t(8;21)(q22;q22);RUNX1-RUNX1T1 b

Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy có inv(16)(p13.1;1q22) hoặc t(16;16)(p13.1;q22);CBFB-MYH11

Bạch cầu cấp thể tiền tủy bào có t(15;17)(q22;q12); PML-RARA b

Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy có t(9;11)(p22;q23); MLLT3-MLL

Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy có t(6;9)(p23;q34); DEK-NUP214

Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy có inv(3)(q21q26.2) or t(3;3)(q21;q26.2); RPN1-EVI1

Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy (nguyên mẫu tiểu cầu) có t(1;22)(p13;q13); RBM15-MKL1

Thực thể tạm thời: Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy có biến đổi gen NPM1

Thực thể tạm thời: Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy có biến đổi gen CEBPA

Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy không trưởng thành

Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy trưởng thành

Bạch cầu cấp dòng tủy-mono

Bạch cầu cấp dòng nguyên bạch cầu mono và bạch cầu mono

Bạch cầu cấp dòng hồng cầu

Bạch cầu cấp dòng mẫu tiểu cầu

Bạch cầu cấp dòng bạch cầu ái kiềm

Tăng sinh các tế bào tuỷ cấp có tăng sinh xơ tủy

Tân sản tế bào tua non dạng tương bào Bạch cầu cấp không rõ dòng

Bạch cầu cấp không biệt hóa

Bạch cầu cấp phối hợp phenotype t(9;22)(q34;q11,20); BCR-ABL11

Bạch cầu cấp phối hợp phenotype có t(v;11q23); MLL tái cấu trúc

Bạch cầu cấp phối hợp phenotype, B/tủy, NOS

Bạch cầu cấp phối hợp phenotype, T/tủy, NOS

Thực thể tạm: TB diệt tự nhiên (NK) Bệnh BC nguyên bào lympho/u

MO: Bệnh bạch cầu biệt hóa tối thiểu

Ml: Bệnh bạch cầu nguyên tủy bào không trưởng thành

M2: Bệnh bạch cầu nguyên tủy bào trưởng thành

M3: Bệnh bạch cầu tiền tủy bào tăng bạch cầu hạt

M4: Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy – mono

M4Eo: Biến thể: Tăng bạch cầu ái toan tủy bất thường

M5: Bệnh bạch cầu dòng mono

M6: Bệnh bạch cầu dòng hồng cầu (Bệnh DiGuglielmo)

M7: Bệnh bạch cầu dòng mẫu tiểu cầu

aTheo SH Swerdlow và cộng sự (eds): Tổ chức Y tế Thế giới phân loại các khối u hệ tạo máu và mô lympho. Lyon, IARC Press, 2008.bChẩn đoán là Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy bất kể số lượng blast.cTừ JM Bennett và cộng sự: Ann Intern Med 103:620, 1985. Viết tắt: Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy: bạch cầu cấp dòng tủy; BC: bạch cầu.

Đặc Điểm Lâm Sàng Và Cận Lâm Sàng

Nhiễm khuẩn và nhiễm nấm hay gặp; nguy cơ cao hơn khi số lượng bạch cầu trung tính <5000/μL, tổn thương hàng rào da và niêm mạc làm trầm trọng thêm sự nhạy cảm; nhiễm trùng có thể bị che khuất trên lâm sàng do giảm bạch cầu trầm trọng và để nhận ra nhanh chóng đòi hỏi mức độ nghi ngờ lâm sàng cao.

Gan, lách to xảy ra ở khoảng một phần ba số bệnh nhân; viêm màng não do bệnh bạch cầu có thể có với triệu chứng đau đầu, buồn nôn, co giật, phù gai thị, liệt thần kinh sọ.

Các bất thường chuyển hóa bao gồm hạ natri máu, hạ kali máu, tăng lactate dehydrogenase (LDH) huyết thanh, tăng acid uric máu và nhiễm toan lactic (hiếm). Nếu số lượng tế bào blast rất cao trong máu, tăng kali máu giả và hạ đường huyết có thể xảy ra (kali được giải phóng và glucose bị tiêu thụ bởi các tế bào ung thư sau khi máu bị rút ra).

ĐIỀU TRỊ Bạch cầu cấp dòng tủy

Lượng tế bào bạch cầu tại thời điểm phát hiện có thể là 1011-1012 tế bào; khi số lượng bạch cầu giảm xuống dưới ~109, chúng không còn được phát hiện trong máu và tủy xương và bệnh nhân có vẻ thuyên giảm hoàn toàn (CR). Vì vậy điều trị tích cực phải tiếp tục qua thời điểm khi số lượng lớn các tế bào ban đầu giảm nếu bệnh bạch cầu được loại trừ . Giai đoạn hóa trị điển hình bao gồm điều trị cảm ứng thuyên giảm và hậu thuyên giảm, với việc điều trị kéo dài khoảng 1 năm. Hình 72-1 chỉ ra phác đồ điều trị.

Chăm sóc hỗ trợ bằng truyền hồng cầu và tiểu cầu [từ người hiến có cytomegalovirus (CMV) huyết thanh âm tính, nếu bệnh nhân là ứng viên ghép tủy xương] là rất quan trọng, cũng như phòng chống, chẩn đoán và điều trị các bệnh nhiễm trùng tích cực. Các yếu tố kích thích dòng có ít hoặc không có lợi ích; một số khuyến cáo sử dụng ở những bệnh nhân lớn tuổi và những người có nhiễm trùng hoạt động. Giảm bạch cầu trung tính có sốt nên được điều trị bằng kháng sinh phổ rộng (VD ceftazidime 1g 8h/lần); nếu giảm bạch cầu trung tính có sốt kéo dài quá 7 ngày, có thể thêm amphotericin B. Khoảng 60-80% bệnh nhân đạt được thuyên giảm ban đầu khi điều trị bằng cytarabine 100-200 (mg/m2)/ngày truyền liên tục trong 7 ngày và daunorubicin [45 (mg/m2)/ngày] hoặc idarubicin [12-13 (mg/m2)/ngày] trong 3 ngày. Thêm etoposide có thể cải thiện thời gian thuyên giảm hoàn toàn. Một nửa số bệnh nhân điều trị thuyên giảm hoàn toàn trong đợt hóa trị đầu tiên và 25% khác đạt được trong đợt 2. Khoảng 10-30% bệnh nhân có thời gian sống thêm 5 năm không bệnh và có thể chữa được.

Các BN thuyên giảm hoàn toàn có nguy cơ tái phát thấp [các tế bào chứa t(8;21) hoặc inv(16)] nhận 3-4 đợt cytarabine. Những người có nguy cơ tái phát cao được cân nhắc cấy ghép tủy đồng loại. Đáp ứng điều trị sau tái phát thường ngắn và tiên lượng những bệnh nhân tái phát thường kém. Trong APL, thêm trans-retinoic acid (tretinoin) và điều trị gây nên sự biệt hoá các tế bào bạch cầu và có thể cải thiện kết quả. Arsenic trioxide cũng gây biệt hóa các tế bào APL. Ghép tủy xương từ người sinh đôi cùng trứng hoặc anh chị em có kháng nguyên bạch cầu người (HLA) giống hệt là cách điều trị hiệu quả cho Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy. Protocol điển hình dùng hóa trị liều cao ± xạ trị toàn thân để cắt bỏ tủy người nhận, sau đó truyền tủy người cho. Nguy cơ rất cao (trừ tủy từ người sinh đôi cùng trứng). Biến chứng gồm mô ghép chống vật chủ, viêm phổi kẽ, nhiễm trùng cơ hội (đặc biệt CMV). So sánh giữa cấy ghép và cytarabine liều cao như liệu pháp hậu thuyên giảm thấy không có lợi thế rõ ràng cho cách nào. Có đến 30% bệnh nhân bệnh bạch cầu dai dẳng giai đoạn cuối khác có thể chữa được nhờ cấy ghép; kết quả tốt hơn khi thực hiện cấy ghép trong khi thuyên giảm. Kết quả tốt nhất ở trẻ em và người trẻ tuổi.

Tổng Quan Về Bệnh Bạch Cầu Dòng Tủy Lympho Cấp Tính Và Mãn Tính

Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy lympho là một loại ung thư tủy xương và máu – mô mềm trong xương nơi mà các hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu được tạo thành. Vậy bệnh bạch cầu dòng tủy lympho cấp tính và mãn tính cụ thể thế nào? Tìm hiểu ngay qua bài viết sau đây!

Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy lympho là gì?

Thuật ngữ “cấp tính” trong bệnh bạch cầu cấp dòng tủy lympho xuất phát từ một thực tế, bệnh tiến triển nhanh chóng và tạo ra từ những tế bào máu mới hình thành hơn là phát triển trên những tế bào máu đã trưởng thành. Từ “lympho” trong bệnh bạch cầu cấp dòng tủy lympho ám chỉ tới các tế bào ở bạch cầu được gọi là lympho, thứ giúp cơ thể chiến đấu lại với sự nhiễm trùng. Bệnh bạch cầu lympho cấp tính cũng được biết đến với tên gọi là bệnh bạch huyết bào cấp tính.

Triệu chứng của bệnh bạch cầu cấp dòng tủy lympho

Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy lympho là loại ung thư thường gặp nhất ở trẻ em, và việc điều trị tốt sẽ có cơ hội phục hồi bệnh tốt. Bạch cầu cấp dòng tủy lympho cũng có thể xảy ra ở người lớn, mặc dù khả năng chữa trị bị giảm đáng kể.

Một số dấu hiệu và triệu chứng của bạch cầu cấp dòng tủy lympho có thể bao gồm:

Chảy máu lợi

Đau xương

Sốt

Hay nhiễm trùng

Hay chảy máu mũi nặng

U bị gây ra bởi hạch bạch huyết trong và quanh cổ, nách, bụng, bẹn

Sắc da nhợt nhạt

Khó thở

Yếu ớt, mệt mỏi hay giảm năng lượng của cơ thể.

Nguyên nhân gây bệnh bạch cầu cấp dòng tủy lympho

Bệnh bạch cầu lympho cấp tính xảy ra tại mô xương khi xuất hiện những đột biến ADN trong tế bào. Tế bào vẫn đang tiếp tục phát triển và phân chia, khi một tế bào khỏe ngừng phân chia nó sẽ chết. Mô xương sản xuất ra những tế bào mới phát triển thành tế bào bạch cầu gọi là nguyên bào bạch huyết bào. Những tế bào không bình thường này không thể hoạt động đúng cách, chúng có thể áp đảo tế bào khỏe mạnh.

Mặc dù không xác định được nguyên nhân gây đột biến ADN thứ có thể dẫn tới bệnh bạch cầu cấp dòng tủy lympho, nhưng các bác sĩ đã nhận thấy, trong hầu hết các trường hợp bệnh bạch cầu cấp tính không thể di truyền.

Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ lympho.

Yếu tố có thể tăng nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cấp tình bao gồm:

Điều trị ung thư trước đó. Trẻ em và người lớn đã từng trị liệu với xạ trị hay hóa trị cho bất kỳ loại ung thư nào có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cấp tính.

Nhiễm tia phóng xạ. Những người nhiễm phóng xạ cao như những người sống sót trong một tai nạn về hạt nhân, có nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cấp tính cao.

Rối loạn gen. Một số loại gen nhất định như: hội chứng bệnh down cũng đi kèm với nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cấp tính.

Những người có anh, chị em ruột, tính cả trường hợp sinh đôi đều có rủi ro mắc ung thư bạch cầu cấp tính cao hơn.

Bệnh bạch cầu mãn tính dòng tủy Lympho là gì?

Bệnh bạch cầu mãn tính dòng tủy là một dạng ung thư tủy máu và xương – phần mô mềm bên trong xương, nơi các tế bào máu được hình thành.

Thuật ngữ “mãn tính” trong bạch cầu mãn tính dòng tủy bắt nguồn từ sự tiến triển chậm hơn với những loại bệnh bạch cầu khác. Thuật ngữ “lympho” trong bệnh bạch cầu mãn tính dòng tủy lympho bắt nguồn từ những tế bào bị ảnh hưởng – một nhóm tế bào bạch cầu được gọi là lympho, thứ giúp cơ thể chiến đấu lại với sự nhiễm trùng.

Bệnh bạch cầu mãn tính dòng tủy lympho ảnh hưởng phổ biến nhất lên người lớn. Thật may, hiện nay có nhiều cách điều trị giúp kiểm soát được căn bệnh này.

Triệu chứng của bệnh bạch cầu mãn tính dòng tuỷ Lympho

Nhiều người mắc bạch cầu mãn tính dòng tủy lympho không có triệu chứng điển hình. Do đó, để phát hiện sớm căn bệnh ác tính này gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khi người dân chưa có nhận thức khám tổng quát hàng năm. Những bệnh nhân mắc bạch cầu mãn tính dòng tuỷ lympho có thể xuất hiện một số các dấu hiệu và triệu chứng như sau:

Hạch bạch huyết sưng to nhưng không đau

Mệt mỏi

Sốt

Cơn đau ở phần trên bên trái của bụng, có thể gây sưng to lá lách

Đổ mồ hôi vào ban đêm

Giảm cân

Hay nhiễm trùng

Một số nguyên nhân gây bệnh

Các bác sĩ không chắc chắn về nguyên nhân chính xác gây ra bệnh bạch cầu mãn tính dòng tủy lympho. Chỉ biết là có một cái gì đó xảy ra và gây ra đột biến gen trong ADN của tế bào sản xuất ra máu. Loại đột biến này khiến cho các tế bào máu sản sinh ra các bạch cầu xấu và hoạt động bất thường.

Những bạch cầu xấu và không hoạt động bình thường này tiếp tục sống và phân chia ra nhiều, khi các bạch cầu bình thường chết. Các bạch cầu xấu này sẽ tích tụ trong máu và một số vùng nội tạng nhất định, nơi chúng gây ra biến chứng. Chúng có thể rất nhiều và áp đảo những tế bào mạnh khỏe, đào thải những tế bào đó ra khỏi mô xương và can thiệp vào quá trình sản xuất các tế bào máu bình thường.

➤ Những nguy cơ tiềm ẩn do bệnh bạch cầu mãn tính dòng tuỷ lympho gây ra

Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bạch cầu mãn tính dòng tủy lympho bao gồm:

Biến chứng nguy hiểm của bệnh

Bạch cầu mãn tính dòng tủy lympho có thể gây ra một số biến chứng như:

Có Thể Bạn Quan Tâm: ung thu vòm họng, nhung dau hieu ung thu vom hong, trieu chung ung thu da day, ung thư vú, ung thư vú và dấu hiệu nhận biết, , ung thư vú và dấu hiệu nhận biết,

Bạch Cầu Kinh Dòng Tủy (Cml)

Bạch cầu kinh dòng tủy là bệnh lý ác tính theo dòng thường đặc trưng bởi lách to và tăng sinh bạch cầu hạt; diễn biến ban đầu không đau nhưng dẫn đến kết quả trong giai đoạn bạch cầu (bùng phát blast) có tiên lượng xấu hơn Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy tự nhiên; tỷ lệ tiến triển đến giai đoạn bùng phát rất thay đổi; nói chung thời gian sống thêm là 4 năm từ khi chẩn đoán.

Tỷ Lệ Mắc Và Bệnh Nguyên

Lưu đồ điều trị cho chẩn đoán mới bạch cầu cấp dòng tủy. Với tất cả các thể Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy trừ bạch cấu cấp thể tiền tủy bào (APL), liệu pháp chuẩn bao gồm truyền liên tục 7 ngày cytarabine (100-–200 mg/m 2/ngày) và một đợt 3 ngày daunorubicin (60-–90 mg/m 2/ngày) kèm theo có hoặc không 3 ngày etoposide (chỉ daunorubicin 60 mg/m 2/ngày) hoặc liệu pháp mới dựa trên nguy cơ tái phát được dự đoán (tức là điều trị rủi ro phân tầng). Idarubicin (12-–13 mg/m 2/ngày) có thể thay thế daunorubicin (không hiển thị). Những bệnh nhân thuyên giảm hoàn toàn chuyển sang điều trị củng cố hậu thuyên giảm, gồm các đợt cytarabine liều cao liên tiếp, ghép tế bào gốc tạo máu (HSCT) tự thân, HSCT đồng loại, hoặc liệu pháp mới, dựa trên nguy cơ tái phát được dự đoán (tức là điều trị rủi ro phân tầng). Bệnh nhân có APL (xem sách về điều trị) thường dùng tretinoin đồng thời với hóa trị dựa trên anthracycline để thuyên giảm cảm ứng sau đó dùng arsenic trioxide kết hợp với hóa trị dựa trên anthracycline và có thể duy trì với tretinoin. Vai trò của cytarabine trong APL cảm ứng và kết hợp còn gây tranh cãi.

Đặc Điểm Lâm Sàng Và Cận Lâm Sàng

Diễn Biến Tự Nhiên

Giai đoạn mạn tính kéo dài 2-4 năm. Giai đoạn tăng tốc được đánh dấu bằng thiếu máu không tương xứng với các triệu chứng bệnh hoặc điều trị. Tiểu cầu giảm. Xuất hiện bất thường di truyền tế bào khác. Số lượng tế bào blast tăng. Thường trong 6-8 tháng, bùng phát blast rõ trong đó sự trưởng thành dừng lại và các tế bào blast chiếm ưu thế. Hình ảnh lâm sàng là bệnh bạch cầu cấp. Một nửa các trường hợp trở thành Bệnh Bạch cầu cấp dòng Tủy, một phần ba có đặc điểm hình thái của bạch cầu cấp dòng lympho, 10% là bạch cầu cấp dòng hồng cầu và còn lại là không biệt hóa. Thời gian sống thêm của bùng phát blast thường <4 tháng.

ĐIỀU TRỊ Bạch cầu kinh dòng tủy

Những bệnh nhân không đáp ứng với imatinib có thể đáp ứng với các thuốc ức chế tyrosine kinase khác như dasatinib (100 mg uống 1 lần/ ngày) hoặc nilotinib (400 mg 2 lần/ngày). Đột biến T315I ở gen BCR/ ABL truyền tải sự đề kháng với cả ba chất ức chế kinase. Allopurinol, 300 mg/d, ngăn ngừa bệnh thận do urat. Liệu pháp chữa bệnh duy nhất là ghép tủy xương đồng loại kết hợp HLA. Thời điểm cấy ghép tối ưu không rõ ràng nhưng ghép trong giai đoạn mạn tính hiệu quả hơn so với giai đoạn tăng tốc hoặc bùng phát blast. Cấy ghép hiệu quả nhất ở các bệnh nhân điều trị trong vòng một năm chẩn đoán. Thời gian sống không bệnh kéo dài có thể đạt được ở 50–-60% bệnh nhân được cấy ghép. Truyền tế bào lympho có thể phục hồi sự thuyên giảm ở các bệnh nhân tái phát. Ở các bệnh nhân không có người hiến tặng phù hợp, cấy phép tự thân có thể hiệu quả khi sử dụng tế bào gốc máu ngoại vi. Điều trị bệnh nhân khi bùng phát blast với imatinib có thể có đáp ứng nhưng không bền.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Bệnh Bạch Cầu Dạng Tủy Cấp Tính Có Loạn Sản Đa Dòng Tại Ttyt Tân Thành trên website Mgwbeautypageant.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!