Đề Xuất 11/2022 # Y Học Thường Thức: Xuất Huyết Khoang Dưới Nhện! / 2023 # Top 11 Like | Mgwbeautypageant.com

Đề Xuất 11/2022 # Y Học Thường Thức: Xuất Huyết Khoang Dưới Nhện! / 2023 # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Y Học Thường Thức: Xuất Huyết Khoang Dưới Nhện! / 2023 mới nhất trên website Mgwbeautypageant.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Xuất huyết khoang dưới nhện là một trong những dạng của đột quỵ hay tai biến mạch máu não. Tình trạng mà có hiện tượng chảy máu xung quanh não bộ. Khái niệm xuất huyết là thuật ngữ miêu tả sự chảy máu này.

Ở các bệnh nhân, chảy máu xảy ra ở một khoang được gọi tên là khoang dưới nhện. Khoang này là tên gọi của khoảng trống giữa não và lớp màng nhện – lớp màng mỏng nhất bảo phủ xung quanh não bộ.

Nguyên nhân thường gặp nhất của xuất huyết khoang dưới nhện là chấn thương và sự vỡ của các túi phình mạch máu não. Đây là một bệnh lý nặng, đôi khi đe dọa tính mạng bệnh nhân, đặc biệt là khi nguyên nhân của xuất huyết dưới nhện là từ sự vỡ của các túi phình mạch máu não.

2. Các triệu chứng của xuất huyết khoang dưới nhện là gì?

Nếu bạn gặp phải bất cứ một triệu chứng nào nghi ngờ nêu ở trên hoặc có nguy cơ cao mắc phải bệnh lý xuất huyết dưới nhện, bác sĩ khám sẽ có thể chỉ định các cận lâm sàng bao gồm như:

Có thể thực hiện một phim CT scan. Phương tiện này cung cấp những thông tin về não bộ

Chọc dò thắt lưng (đôi khi được gọi là chọc dò tủy sống )

Đây là quá trình mà bác sĩ sẽ đưa đầu kim vào vùng thắt lưng để lấy một vài mẩu dịch não tủy. Dịch não tủy là phần dịch được tiết ra vào bao quanh não bộ cũng như thông suốt xuống tận tủy sống, Nếu phần dịch này chứa máu thay vì không màu như bình thường có thể thể hiện tình tràng xuất huyết khoang dưới nhện.

Nếu chụp CT scan hoặc chọc dò thắt lưng cung cấp những gợi ý về tình trạng xuất huyết khoang dưới nhện, bác sĩ có thể tiếp tục chỉ định bệnh nhân thực hiện thêm những phương tiện chẩn đoán hình ảnh học để xác định nguyên nhân của tình trạng xuất huyết có phải do túi phình mạch máu não vỡ hay là không, phương tiện cần lúc đó là

Còn được gọi là CTA- CT angiography hoặc cộng hưởng từ mạch máu não (hay còn gọi là MRA – magnetic resonance angiography). Những phương tiện chẩn đoán hình ảnh học cao cấp này là những cung cấp những hình ảnh CT cũng như MRI về hệ thống mạch máu của não bộ. Bác sĩ thường sử dụng những chất chỉ thị tiêm vào lòng mạch trong CTA cũng như đôi khi trong MRA. Những chất chỉ thị này giúp hiển thị mạch máu não một cách rõ ràng hơn khi khảo sát

Đây là phương tiện chẩn đoán hình ảnh học thông qua việc đưa một đầu catheter – một ống có kích thước nhỏ hơn lòng mạch máu, đi từ chân để theo mạch máu đến vùng đầu cổ. Khi đến nơi, bác sĩ dùng các chất chỉ thị bơm vào lòng mạch để khảo sát lưu thông của mạch máu não

4. Xuất huyết khoang dưới nhện được điều trị như thế nào?

Hầu hết bệnh nhân xuất huyết khoang dưới nhện cần được điều trị và theo dõi tại các khoa chăm sóc đặc biệt (ICU – intensive care unit) ở các cơ sở y tế.

Điều trị với những nhóm thuốc giảm thiểu tối đa sự tổn thương của não bộ do hiện tượng chảy máu

Dùng các thuốc khống chế được áp lực máu của não

Dừng các thuốc kháng đông như aspirin và warfarin nếu có. Vì nếu tiếp tục dùng các thuốc trên thì hiện tượng chảy máu sẽ khó được khống chế

Tìm nguyên nhân của xuất huyết khoang dưới nhện

Theo dõi áp lực nội sọ (áp lực tác động trực tiếp lên não bộ ) và kiểm soát tốt chống hiện tượng áp lực này tăng quá cao. Nếu túi phình mạch máu não vỡ được xác định là nguyên nhân của xuất huyết khoang dưới nhện. Bác sĩ sẽ cân nhắc đến các biện pháp điều trị phẫu thuật hoặc can thiệp mạch nếu cần thiết để ngăn ngừa việc chảy máu.

Thực hiện phẫu thuật kẹp clip ưu tiên hơn đối với các túi phình kích thước không quá lớn và dễ tiếp cận

Can thiệp mạch máu, thả Coil ưu tiên hơn đối với các túi phình ở vị trí khó tiếp cận.

Để có thêm thông tin về bệnh lý túi phình mạch máu não bạn hãy tìm đọc một bài viết riêng ở mục thần kinh đã được đăng tải trước đó.

Hầu hết bệnh nhân cần được theo dõi sát ở khoa ICU nhiều ngày đến nhiều tuần hoặc lâu hơn.

Bác sĩ cần theo dõi sát các tình trạng của bệnh nhân như:

Bất thường nhịp tim

Huyết khối tĩnh mạch chi dưới

Cân bằng điện giải

Co thắt mạch máu não – đây là hiện tượng co thắt của các động mạch não, xảy ra trong những ngày đầu hoặc những tuần đầu sau một tình trạng xuất huyết khoang dưới nhện. Chinh hiện tượng co thắt mạch máu não này dẫn đến tình trạng nặng, thiếu máu não.

Xuất huyết khoang dưới nhện là một bệnh lý nặng nề và nghiêm trọng. Nhiều bệnh nhân tử vong do nhóm bệnh lý này. Những bệnh nhân may mắn vượt qua cũng mắc nhiều vấn đề sức khỏe sau này.

Những bệnh nhân bị mức độ nặng có những vấn đề sức khỏe về sau như:

Ở một số bệnh nhân còn tàn phế, hay thậm chí tử vong vì xuất huyết khoang dưới nhện.

6. Khi có những vấn đề về xuất huyết khoang dưới nhện, bạn cần đi khám ở đâu?

Những cơ sở y tế có chuyên khoa ngoại thần kinh và can thiệp mạch máu não là những nơi có điều kiện để chẩn đoán và điều trị bệnh lý này

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

Y Học Thường Thức: Chứng Trật Khớp Vai / 2023

Trật khớp vai là tình trạng mà đầu xương cánh tay di chuyển ra khỏi vị trí bình thường trong khớp vai.

Vai là một trong những vị trí dễ xảy ra trật khớp nhất của cơ thể. Đó là do đầu trên xương cánh tay gắn kết vào khớp vai ở vị trí ổ cối khá di động. Điều này làm cho cánh tay cực kỳ linh động và có thể thực hiện các động tác ở nhiều hướng. Nhưng đồng thời cũng không vững chắc.

Trong một số trường hợp các mô xung quanh khớp vai cũng có thể bị tổn thương, thậm chí rách do căng giãn quá mức.

2. Trật khớp vai xảy ra như thế nào?

Trật khớp vai có thể xảy ra khi bạn ngã theo tư thế đập vai xuống đất. Thông thường, trật khớp vai hay gặp ở những bệnh nhân chơi thể thao hoặc các tai nạn trong thể thao.

Ở một số bệnh nhân lớn tuổi, trật khớp có thể xảy ra ở tư thế té chống tay. Những bệnh nhân có sẵn bệnh lý khớp vai cũng dễ trật khớp hơn.

3. Triệu chứng của trật khớp vai

Ở hầu hết các ca trật khớp, đầu trên xương cánh tay trật ra phía trước ổ cối. Các triệu chứng có thể gặp như

Hạn chế cử động cánh tay, khi cử động sẽ gây đau rất dữ dội

Vùng vai của bệnh nhân sẽ nhìn trong vuông hơn so với vai bình thường đối diện

Đôi khi quan sát thấy những khối nổi gồ lên ở vùng đầu trên xương cánh tay, dưới da và trước khớp vai

Hiếm khi đầu trên xương cánh tay bật ra khỏi khớp vai về phía sau. Tình trạng này thường gặp hơn ở những bệnh nhân động kinh, sau điện giật. Trật khớp vai ra sau rất hay bị bỏ sót.

4. Nên làm gì khi trật khớp vai?

– Hãy đến các cơ sở y tế gần nhất ngay nếu có các triệu chứng của trật khớp vai kể trên.

– Đừng cố gắng nắn lại khớp vai một mình. Việc cố gắng tự nắn khớp vai có thể làm tổn thương thêm mạch máu và thần kinh xung quanh khớp vai.

– Trong khi chờ được sự hỗ trợ của các bác sĩ, cố gắng giữ cho phần vai và cánh tay trên bất động, hạn chế cử động càng nhiều càng tốt.

– Đặt những chất liệu mềm, như là chăn hoặc gối vào giữa tay và thân người để nâng đỡ và cố định tốt hơn cánh tay. Giữ tay sát thân người và với khủy tay gấp.

5. Điều trị gãy trật khớp vai

Bạn cần được thăm khám và đánh giá tại các cơ sở y tế. Thông thường sẽ cần một phim X-Quang khớp vai để tìm các vị trí gãy xương nếu có và khẳng định tình trạng trật khớp vai

Nếu trật khớp vai đi kèm những gãy xương, đôi khi cần khảo sát thêm phim CT scan để có thêm nhiều thông tin. Gãy xương kèm với trật khớp vai cần được đánh giá bởi các chuyên gia chấn thương chỉnh hình, đôi khi cần đến phẫu thuật.

Nếu bạn không có gãy xương, trật khớp vai có thể được phục hồi bằng các kỹ thuật nắn trật khớp vai.

Đầu tiên bệnh nhân sẽ được điều trị giảm đau bằng thuốc để giúp thư giãn trước nắn.

Nắn trật thường được thực hiện ngay tại phòng cấp cứu, tuy nhiên một số trường hợp khó khăn cần được nắn trật tại phòng mổ dưới gây mê bởi đội ngũ chuyên gia chấn thương chỉnh hình.

Thông thường bệnh nhân nằm trên giường, bác sĩ sẽ cố gắng kéo và xoay để đầu trên xương cánh tay trở về lại vị trí bình thường ở khớp vai. Kỹ thuật nắn trật này có thể mất vài phút.

Sau nắn trật bệnh nhân cần được chụp XQuang kiểm tra sau nắn để xác định lại đầu trên xương cánh tay có vào đúng vị trí hay chưa

6. Trật khớp vai bao lâu thì khỏi?

Bệnh nhân có thể về nhà sau khi nắn trật thành công, tuy nhiên khi về cần được nghỉ ngơi, đeo đai trong vài ngày sau đó đến khi giảm đau.

Sau vài ngày bệnh nhân có thể thôi đeo đai. Tuy nhiên nếu bệnh nhân có gãy xương kèm theo với trật khớp vai, việc đeo đai có thể kéo dài đến trên 6 tuần để hồi phục.

Thông thường khớp vai cần thời gian từ 12 đến 16 tuần sẽ lành sau khi đã được nắn trật trở về lại vị trí bình thường. Sau 12 tuần, các cử động nhẹ của khớp vai có thể thực hiện được trở lại. Tiếp đó đến sau 16 tuần hầu như các vận động của khớp vai có thể trở lại gần như bình thường.

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

Y Học Thường Thức: Bệnh Celiac (Không Dung Nạp Gluten) / 2023

Celiac là bệnh lý xảy ra do tình trạng giảm khả năng hấp thu một số loại thực phẩm nhất định ở đường tiêu hóa. Những người bệnh celiac thường gặp những triệu chứng khi ăn bánh mì, pizza hay các loại ngũ cốc như lúa mạch và lúa mạch đen…Do những loại thức ăn này có chứa loại protein mang tên gluten. Gluten làm tổn thương đường ruột của những bệnh nhân celiac. Hậu quả là làm giảm khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của đường tiêu hóa. Bệnh celiac gặp ở cả người lớn lẫn trẻ em

2. Triệu chứng của bệnh celiac

Một số bệnh nhân celiac không biểu hiện triệu chứng. Một số khác gặp phải các triệu chứng như :

Các triệu chứng trên cũng có thể gặp ở nhiều bệnh lý khác. Vậy nên nếu bạn gặp phải bất cứ triệu chứng nào kể trên hãy đến thăm khám ở các cơ sở y tế để được chẩn đoán bệnh chính xác.

Tiêu chảy là một trong những biểu hiện của bệnh celiac. Tuy không phải là căn bệnh nguy hiểm nhưng vấn đề này gây nhiều phiền toái cho người bệnh. Có thể bạn chưa biết, có một số thực phẩm người bệnh này tuyệt đối không nên dùng. Nội dung này được chia sẻ trong bài viết: “Không nên ăn gì khi đang bị tiêu chảy?” của Dược sĩ Trần Thị Thùy Linh

Bên cạnh việc thăm khám và hỏi bệnh sử thì có những xét nghiệm giúp ích cho việc chẩn đoán bệnh celiac như :

Xét nghiệm máu : Xét nghiệm máu giúp khảo sát những protein do cơ thể tạo ra khi tiêu hóa. Những bệnh nhân mắc celiac cơ thể thường tạo kháng thể với Gluten nhiều hơn người bình thường. Do đó để tránh chẩn đoán chính xác, bệnh nhân thường được yêu cầu ăn theo chế độ chứa Gluten trong vài tuần trước khi thực hiện xét nghiệm.

Nội soi đường tiêu hóa, kèm sinh thiết : dụng cụ nội soi gồm có một ống mềm có chứa camera ở đầu ống. Ống nội soi được đưa vào đường tiêu hóa để khảo sát bề mặt của ruột non. Thông qua các dụng cụ đặc biệt có thể lấy một mẫu mô nhỏ để khảo sát dưới kính hiển vi chẩn đoán bệnh.

Phương pháp điều trị hiệu quả nhất là ngừng ăn thực phẩm chức Gluten. Việc này thường khá khó làm quen. Gluten chứa trong các thức ăn phổ biến như :

Giai đoạn đầu, bệnh nhân cũng cần hạn chế sữa, phô mai và những thực phẩm có nguồn gốc sữa. Những nhóm thực phẩm này thường tốn nhiều thời gian tiêu hóa ảnh hưởng đến sự lành của đường ruột sau tổn thương. Sau khi các tổn thương đường ruột ổn định bạn có thể sử dụng lại những loại thực phẩm này.

Những loại thực phẩm không chứa Gluten để thay thế như:

Một số thực phẩm được chế biến chủ động loại bỏ thành phần Gluten cũng an toàn cho bệnh nhân. Thời gian điều trị đầu có thể bác sĩ sẽ cần chỉ định thêm những nhóm thuốc bổ sung vitamin để bổ sung nhu cầu cho bệnh nhân trong lúc thay đổi chế độ ăn.

Bệnh nhân thường cảm nhận được các triệu chứng cải thiện từ sau 2 tuần điều trị với việc thay đổi khẩu phần ăn không Gluten. Tuy vậy, hầu hết bệnh nhân phải nỗ lực nhiều và thay đổi lớn trong lối sống để duy trì khẩu phần ăn Gluten.

Các chuyên gia dinh dưỡng có thể giúp bạn những phương pháp thay đổi và đa dạng các loại thực phẩm mà vẫn đảm bảo không chứa Gluten.

Việc tránh các thực phẩm chứa Gluten cần được duy trì liên tục. Việc thăm khám bác sĩ và thực hiện lại xét nghiệm máu mỗi năm 1 lần là cần thiết để đánh giá đáp ứng của cơ thể với khẩu phần ăn hiện tại.

Phần khó nhất trong chế độ sinh hoạt là thay đổi khẩu phần ăn gần như hoàn toàn. Tuy nhiên hiện nay rất nhiều loại thực phẩm đã được sản xuất loại bỏ thành phần gluten dành riêng cho các bệnh nhân celiac. Do đó việc làm quen với chế độ ăn mới cũng thuận lợi hơn trước.

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

Y Học Thường Thức: Nhiễm Trùng Đường Tiêu Hóa (Bác Sĩ Hoàng Cầm) / 2023

Y HỌC THƯỜNG THỨC Nhiễm Trùng Đường Tiêu Hóa Bác Sĩ Hoàng Cầm Dấu hiệu và triệu chứng chung

 Tiêu chảy, phân có thể có máu, chất nhầy.

 Đau quặn bụng.

 Nhức đầu, đau mình mảy.

Tiêu chảy nhiều lần có thể khiến thiếu nước trầm trọng trong cơ thể gây ra các triệu chứng: mạch yếu, miệng khô, môi nẻ, mắt trũng, nước tiểu đậm và ít. Tiêu chảy gây tử vong cao đối với trẻ em và người lớn tuổi.

Nhiễm trùng đường tiêu hóa do thức ăn, uống bị nhiễm siêu vi trùng, vi khuẩn hoặc ký sinh trùng gây ra. Siêu vi trùng Quá nửa các trường hợp nhiễm trùng đường tiêu hóa là do siêu vi trùng. Các loại siêu vi trùng thường thấy là:

Rotavirus: gây tiêu chảy cho trẻ em gửi tại nhà giữ trẻ và người già trong viện dưỡng lão. Tiêu chảy có thể kèm theo ói mửa và sốt nhẹ, kéo dài trong một tuần lễ. Bệnh thường xảy vào mùa đông. Trong thời gian tiêu chảy, điều cần thiết là uống đủ nước. Trẻ em bị tiêu chảy mà có dấu hiệu thiếu nước trong cơ thể thì cần gặp bác sĩ để trị liệu, trường hợp thiếu nước nghiêm trọng phải truyền dịch.

Norwalk virus tồn tại lâu dài trong môi trường nên thường gây tiêu chảy cho một nhóm người sinh hoạt chung nhiều ngày (sinh hoạt gia đình, du thuyền, cắm trại tập thể). Bệnh này lây gián tiếp khi ta sờ trúng siêu vi trùng trong môi trường rồi sờ lên mặt hay cổ mình. Ngoài tiêu chảy và ói mửa, người bệnh cảm thấy đau nhức mình mảy. Bệnh kéo dài khoảng 3 ngày.

Vi khuẩn, ngoài việc làm ô nhiễm thức ăn và đồ uống, còn sinh ra độc tố đưa tới tình trạng ngộ độc thực phẩm. Các thức ăn dễ bị nhiễm độc tố: thịt gia cầm, bò, heo, trứng, sữa cùng các thuộc chất của sữa. Tiêu chảy, ói mửa, đau bụng thường tự chấm dứt sau vài ngày tới một tuần lễ. Trong thời gian lâm bệnh, chỉ cần ăn nhẹ, uống nước đầy đủ, thông thường không cần dùng thuốc. Trẻ em và người lớn tuổi có bệnh mạn tính cần gặp bác sĩ. Bác sĩ có thể cho thuốc trụ sinh trong ít ngày, nếu thấy cần. Trẻ em thiếu nước nghiêm trọng, cần được nhập viện để truyền dịch.

Cách phòng ngừa tốt nhất là giữ sạch đồ dùng đựng thức ăn, rửa tay kỹ trước khi làm món ăn, nấu chín thức ăn (rửa thớt bằng nước và xà bông). Tránh ruồi làm ô nhiễm thức ăn đã nấu chín.

Campylobacter làm ô nhiễm sữa, thịt gà, vịt, chim,

Salmonella làm ô nhiễm sữa, trứng, thịt gia cầm, heo, bò. Đa số người mắc bệnh dưới 20 tuổi.

Shigella. Vi trùng có thể truyền từ người này sang người khác qua tiếp xúc hàng ngày. Tỷ lệ nhiễm trùng Shigella đường tiêu hóa cao tại các xứ nghèo. Trẻ em từ 1 tới 5 tuổi ở nhà giữ trẻ dễ bị tiêu chảy do loại vi trùng này vì lây lẫn nhau.

Escherichia coli (thường gọi tắt là E. Coli) làm ô nhiễm nước uống, thịt, trái cây, rau, Vi trùng hiện diện trong đường tiêu hóa và phân loài súc vật ăn cỏ như trâu, bò, trừu. Vi trùng dễ làm ô nhiễm sữa trong khi ta vắt sữa và nhiễm trùng thịt khi ta giết những súc vật này. Độc tố của E. Coli ra có thể phá vỡ các hồng huyết cầu, gây suy thận cấp tính cho bệnh nhân trẻ em và người già yếu. Các trường hợp này cần được trị liệu tại bệnh viện. Trong trường hợp nhẹ, tiêu chảy, đau bụng giảm dần rồi ngưng trong vòng một tuần lễ. Cần uống nhiều nước, ăn thức ăn nhẹ, ít rau, ít chất béo.

Phòng ngừa: cần rửa tay sạch trước khi làm món ăn, nấu chín thức ăn. Staphylococcus hoặc Clostridium Perfringens. Độc tố do các vi khuẩn này sinh ra gây ngộ độc thực phẩm. Tiêu chảy, đau bụng thường tự chấm dứt trong 1-2 ngày. Thức ăn bị nhiễm trùng thường là sữa, thịt gia cầm.Phòng ngừa: cần rửa tay sạch trước khi làm thức ăn, nấu thức ăn chín.

Ký sinh trùng này làm ô nhiễm giếng nước uống, suối, ao, hồ. Ký sinh trùng vào cơ thể do uống nước giếng hay tắm trong suối, ao, hồ có giardia. Vào cơ thể, ký sinh trùng sinh sản trên lớp màng nhầy của tá tràng, có thể gây ra tiêu chảy kinh niên hay cấp tính, làm ăn mất ngon, xuống cân. Trong trường hợp tiêu chảy thường tái phát, cần gặp bác sĩ. Chẩn đoán: tìm ký sinh trùng trong phân hay trong chất dịch hút ở tá tràng.

Amip. Ký sinh trùng Amip gây bệnh kiết lỵ. Bệnh thường thấy ở xứ nóng như nước ta. Amip ở trong đất dưới dạng có vỏ bọc, vào đường tiêu hóa qua thức ăn, nước uống, thường tích tụ ở đoạn ruột già phân di chuyển chậm như đoạn dưới của đại tràng lên (ở bên phải bụng dưới) và đoạn cuối của đại tràng xuống (phía trái bụng dưới). Trong vỏ bọc, ký sinh trùng không gây bệnh. Sau khi tới ruột già, vỏ bọc bể, ký sinh trùng sinh sản trên lớp màng nhầy, làm loét màng nhầy, kích thích thần kinh ruột già, tức là gây bệnh kiết lỵ.

Dấu hiệu và triệu chứng kiết lỵ:

 Bụng đau quặn.

 Mắc đi cầu gấp rút, phân ít, lẫn với nước, máu và chất nhầy.

 Vừa đi cầu xong, bụng lại quặn đau, phải đi cầu nữa.

Ký sinh trùng có thể xâm nhập gan, làm bọc mủ trong gan khiến bệnh nhân có cảm giác nặng, đau ở phía dưới bên phải ngực. Trong ít trường hợp, ký sinh trùng có thể đi xuyên qua thành ruột già vào các mạch máu, rồi theo tuần hoàn mà tới phổi, não.

Trị liệu: cần gặp bác sĩ. Thông thường thì các dấu hiệu, triệu chứng và khám lâm sàng đủ để chẩn đoán, nhưng bác sĩ cũng cho thử phân để tìm ký sinh trùng. Thuốc trị: Metronidazole, Emetine.

Phòng ngừa: đình chỉ dùng phân người bón cây, rửa sạch rau, trái cây, rửa tay kỹ trước khi làm thức ăn và trước bữa ăn.

Các loại ký sinh trùng khác.

Các ký sinh trùng khác là giun và sán.

Giun đũa, giun móc, giun kim rất phổ thông ở xứ có khí hậu nóng và ẩm như nước ta.

Sán truyền qua người do ăn thịt có nhiễm ấu trùng sán. Giun và sán đều có thuốc chữa rất hiệu quả. Giun đũa là ký sinh trùng có nhiều nhất trong đường tiêu hóa của bệnh nhân thuộc mọi lứa tuổi, nhất là ở những nơi điều kiện vệ sinh công cộng thấp và phân người còn được dùng bón cây, Trứng giun vào cơ thể do thức ăn không nấu như rau sống, trái cây.

Vào đường tiêu hóa, trứng nở ra ấu trùng, nhỏ li ti. Ấu trùng đi xuyên qua màng ruột vào các mạch máu, rồi theo máu đi tới tim, phổi.

Tại phổi ấu trùng thoát ra khỏi mao quản, rơi vào tiểu phế quản rồi di chuyển ngược đường dẫn khí tới họng và trở lại đường tiêu hóa. Ấu trùng thành giun lớn (dài 20-40cm, ngang 3-5mm) ở ruột non, sống lâu chừng một năm. Giun cái thụ tinh, đẻ ra rất nhiều trứng, trứng theo phân ra ngoài.

Ấu trùng khi tới họng gây ho, khó thở, ngứa. Chụp phim phổi: nhiều hạt nám nhỏ trên khắp phim,

Giun ở ruột: bụng căng lớn (thường là trẻ nhỏ), thỉnh thoảng lẩm nhẩm đau bụng. Đôi khi thấy giun trong phân hay giun bị ói ra ngoài qua mũi, miệng.

Thử nghiệm phân: có trứng giun trong phân. Giun móc, dài khoảng 1cm, sống trong lớp màng nhầy của tá tràng. Ngoài việc hút máu để sống, giun móc còn làm cho ruột chảy máu liên tục, khiến người bệnh xanh xao, yếu đuối.

Trứng giun theo phân ra ngoài. Trong đất ẩm và ấm, ấu trùng ra khỏi trứng sau 1-2 ngày.

Ấu trùng có thể vào cơ thể người qua da tay và chân, khi tay và chân tiếp xúc vơi đất có ấu trùng. Sau khi chui qua da, ấu trùng theo tuần hoàn máu đi tới tim, phổỉ rồi tới đường tiêu hòa như trường hợp giun đũa. Chẩn đoán: Đau bụng, ăn mất ngon, tiêu chảy. Người lớn xanh xao, yếu mệt. Trẻ em xanh xao, chậm lớn.

Thử nghiệm phân: có trứng giun và có tế bào máu trong phân. Giun kim, nhỏ như chiếc kim, kích thước: 10mm x 0.5mm. Lan truyền giữa những người cùng gia đình, phần nhiều là trẻ em. Trứng giun theo thức ăn vào miệng. Tới đoạn đầu ruột non, ấu trùng nở ra khỏi trứng, di chuyển xuống, sống ở đoạn đầu ruột già. Giun cái sau khi thụ tinh, di chuyển xuống vùng hậu môn đẻ trứng về ban đêm.

-Ngứa ở vùng hẩu môn về ban đêm.

-Thử nghiệm phân: trứng và giun trong phân. Sán bò, sống trong ruột bò, dài trên 10m. Sán heo, sống trong ruột heo, dài khoảng 7m.

Sán gồm một đầu bám vào thành ruột, hút thức ăn, thân gồm nhiều khúc nối tiếp nhau.

Sán đẻ ra nhiều trứng, trứng nở ra ấu trùng. Ấu trùng di chuyển tới các cơ. Trong cơ bắp, ấu trùng có vỏ bao bọc, tồn tại trong trạng thái bất hoạt.

Sán vào người do ăn lòng bò, heo có chứa trứng sán, hoặc ăn thịt có chứa ấu trùng. Không nấu kỹ, ấu trùng còn sống, nảy nở thành sán lớn ở trong ruột non, đẻ ra trứng, trứng theo phân ra ngoài, làm ô nhiễm đồng cỏ hay thức ăn của heo.

Dấu hiệu chắc chắn là có trứng hay môt đoạn sán ở trong phân.

Các triệu chứng và dấu hiệu khác thường không đặc biệt như: đau bụng, buồn nôn, thiếu máu.

Siêu vi trùng, vi khuẩn, ký sinh trùng qua miệng xâm nhập đường tiêu hóa.

Dấu hiệu và triệu chứng: tiêu chảy nhiều lần trong ngày, đau bụng, sốt nhẹ. Phân có thể có máu, chất nhầy. Tình trạng trên thường giảm dần và chấm dứt trong một tuần lễ.

Khi bị tiêu chảy cần uống nhiều nước, ăn thức ăn nhẹ, nghỉ ngơi.

Trẻ em và người già, cần gặp bác sĩ để được trị liệu, tránh những biến chứng do thiếu nước, muối khoáng gây ra.

Ký sinh trùng ruột vẫn còn là vấn đề phổ thông. Vì vậy, hàng năm nên tới bác sĩ để khám sức khỏe và thử phân. Nếu có nhiễm trùng ruột, bác sĩ sẽ cho thuốc chữa. Chữa bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa có lợi ích cho cá nhân và làm giảm ô nhiễm môi sinh, ngăn ngừa ký sinh trùng lan sang người khác.

Phòng ngừa bệnh cần được đặc biệt chú ý: rửa tay sạch trước khi làm món ăn, rửa sạch rau và trái cây trước khi ăn. Nấu chín thức ăn. Tránh ruồi làm ô nhiễm thức ăn.

Đối chiếu danh từ y học Việt-Anh

Amip Entamoeba histolytica

Giun móc Ancylostoma duodenale

Bạn đang đọc nội dung bài viết Y Học Thường Thức: Xuất Huyết Khoang Dưới Nhện! / 2023 trên website Mgwbeautypageant.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!